Thứ Năm, 21 tháng 5, 2015

Viếng Bố Bạn

Về Nghĩa Trung, Nghĩa Hưng Viêng Bố Bạn , Lúc 8h 00 ngày hai 21 tháng 5 năm 2015 nhận được tin nhán từ Tam báo tin ông cụ đã tạ thế . Tôi chuyển tin đến Lâm Trưởng Ban liên lớp 17-02 Trường Đại Học Kế Toán Hà Nôi. Báo cho mọi người biết. Thế Là mọi người trong lớp thông báo cho nhau và sắp xếp 3h00 ngày 22 tháng năm sẽ đi viếng cụ . Đúng 3h00 Ngày 22 tháng 5 tại 187 giảng võ có 6 người có mặt ( Lâm . Khắc Long, Văn Long, Chu Tuấn, Thanh Tùng, Nguyễn Dung) Và 3 h hơn thì xuất phát. Với Lịch trình 115km theo láng Hạ ra khuất Duy Tiến lên đường vành đai 3 ra đại lộ phát Vân Nam Định Thẳng Tiến ,dưới trời mưa chiếc xe Fotuanno lặng lẽ rẽ mưa lao về phía trước, khoảng thời gian 2h30 phí thì đến thị trấn Trực Ninh đưng xe mua Vòng Hoa. Khi Đi Ở Hà Nội Không Tiện mua hoa ,đoàn định về Nam Định sẽ mua ,nhưng rồi Trời mưa cứ đi thẳng mãi về tới đây dừng lai mua một vòng hoa . Vong hoa không được ưng ý Lăm Thôi cũng được không thành vấn đề chắc cụ cũng thông cảm cho các cháu nhỡ chứ không phải cố ý. Có Lẽ phải tới 6h30 mới song và tiếp tục đi qua thị Trấn Liễu Đề rẽ phai qua Cầu Đá khoảng 1km nữa thì đến Thôn Thụ Tích xã Nghĩa Trung, Nghĩa Hưng. Hai Bên Ngõ Vòng Hoa Dựng đỏ rực Con cháu ,bạn bè cụ đã về viếng Cụ . Bọn Tôi Vào Nhà Viếng Cụ Con Dâu cụ Tên Là Huyền ra tiếp nói Cụ là Người Chăm Chỉ Lao Đông nuôi 7 người con ăn học trưởng thành , Hiện Nay các con Cụ thành đạt co địa vị ,có của ăn của để , Cụ tạ thế 93 tuổi Cụ Là Nguyễn Văn Nguyệt thế đã là quá phúc cho con cháu rồi . Ngôi khoảng 20 Phút chúng tôi vào viếng Cụ .một phút mặch niệm vĩnh Biệt Cụ về nơi Vĩnh Hằng . Song Chúng Toi Rà Chia Buồn Vói Gia Đinh, vợ chông Tam ,Huyền và chào Tạm biệt Trở Về Hà Nội. Trên Đường Về Bạn Của Phạm Thanh Tung Là Hai Có Mơi Đoàn bữa Cơm Tối tai Thành Phố Nam Định . Nhà Hàng Nằm Bên một hồ lớn dưới bóng liêu thướt tha , thơ mộng ánh đền đêm đủ mâu lấp lánh bữa cơm thân mật chân tinh giữa chủ và khách . Thời gian trôi đi Nhanh câu chuyện chưa kết thúc đã đến 9h .Đoàn Cũng Cảm Ơn Ông Hài và chia tay về Hà Nôi đến 10h 30 phút thì đến 187 giảng Võ Hà Nội.Mọi Người Chia Tay Thở Phào Nhẹ Nhõm vì đã thực hiện được một chút nghĩa Tử Với bố bạn.

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2015

Ngày 21 Tháng 5 Năm 2015 Có Mặt Tại Bảo Tàng Quân Chủng phòng Không ,Không Quân Dự Lễ Kỹ Niệm 40 Năm Thành lập Trung Đoàn Không Quân 937

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015

Chuyện Tinh Của Cố Tổng Bi Thư Nguyễn Văn Linh

Chuyện tình của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (kỳ 1) Tags: Bảy Huệ, Mười Cúc, Nguyễn Văn Linh, Sài Gòn, Nam Bộ, Chị Bảy Huệ, tổng bí thư, lông mày rậm, đã gắn kết, đợt công tác, đồng chí, cảm thấy, đồng cảm, hai người, xứ ủy, chị Chuyen tinh cua co Tong Bi thu Nguyen Van Linh ky 1 Vợ chồng đồng chí Nguyễn Văn Linh - Ngô Thị Huệ. Ý tưởng, ước mơ, lẽ sống của anh cũng là của chị. Chị cảm thấy xúc động. Chưa lúc nào anh đứng gần chị như lúc này. Đôi mắt to đen dưới hàng lông mày rậm, gương mặt nghiêm nghị nhưng mỗi khi anh cười toát lên nét hồn nhiên, lạc quan... Mắt nhìn mắt, tay chị nắm chặt tay anh. Một mối đồng cảm thiết tha đã gắn kết hai người. Anh và chị đều cảm thấy mối đồng cảm ấy đã tiềm ẩn tự bao giờ. Đoàn tàu đưa các đồng chí ở nhà tù Côn Đảo về Sóc Trăng. Lúc này, Pháp đã chiếm Sài Gòn. Thay mặt Tỉnh ủy Bạc Liêu, chị Bảy Huệ đi đón các đồng chí ở Bạc Liêu bị bắt về, lần đầu chị được gặp anh Mười Cúc cùng với các anh Lê Duẩn, Lê Văn Sỹ, Phạm Hùng... Các anh đều ở Ban Xứ ủy Đảng Cộng sản Đông Dương. Chị Bảy Huệ không biết anh Mười Cúc đã để ý chị từ ngày ấy. Hồi chưa gặp nhau, anh đã nghe bạn tù Côn Đảo kể nhiều về chị. Những nét hiền dịu trên gương mặt chị ngay từ giây phút đầu đã làm rung động người con trai mồ côi cha mẹ, thiếu thốn tình cảm từ thuở ấu thơ. Năm 1946, chị gặp lại anh trong ngày chị đi họp Quốc hội khóa đầu tiên trở về. Được báo trước sẽ có giao liên ra đón ở ga xe lửa Sài Gòn, chị chưa vội xuống xe. Đưa mắt tìm người có ám hiệu, chị nhận ra anh Mười Cúc đang nhìn chị, mỉm cười. Để tránh con mắt mật thám, chị đi xa xa phía sau. Nhìn anh mặc chiếc quần soọc đen, chiếc áo sơmi ngắn tay, vai áo đã sờn, đầu đội nón nỉ như mọi người lao động Sài Gòn lúc ấy, chị chợt thấy thương anh. Chị lên xe kéo, anh đi xe đạp phía trước. Đến trước cửa một hiệu chụp ảnh, chị theo anh bước vào. Chủ nhà là chị Năm Bắc, cơ sở của Thành ủy, niềm nở tiếp đón. Anh Mười Cúc giới thiệu một cô giao liên với chị: - Chị theo cô này ra Chợ Lớn. Nói xong, anh đi ngay. Chiếc xe thổ mộ lọc cọc chạy khỏi chợ Bình Chánh, qua bến Phú Lâm, qua cầu An Lạc rồi dừng lại. Xuống xe, vừa rẽ qua căn nhà đầu đường, chị đã thấy có chiếc xuồng chờ... Lên bờ, chị đi bộ đến chợ Lý Văn Mạnh đang họp sát mé nước rồi rẽ qua rạch Chanh. Khi chị Bảy và cô giao liên vừa bước vào căn nhà nhỏ, anh Mười Cúc đã ngồi đấy. Anh mặc bộ đồ bà ba đen, trên cổ cột khăn rằn như nông dân ở đây. Không biết anh đi bằng cách nào và đến từ bao giờ. Chị thấy xúc động khi nghe anh ân cần dặn cô giao liên: - Các em sắp chỗ cho chị nghỉ để sáng mai đi sớm tránh máy bay. Tờ mờ sáng hôm sau, chị Bảy Huệ theo giao liên đi lên chiến khu Đồng Tháp Mười, đến Cơ quan Xứ ủy và Cơ quan Phụ nữ Nam Bộ. Chị đưa xấp thư anh Mười gửi Xứ ủy và Văn phòng Phụ nữ Nam Bộ. Chị Đoàn Kim Định chia riêng xấp của Xứ ủy và xấp của Phụ nữ Nam Bộ. Chợt chị Định kêu lên: - Có thư chị Bảy nè. Chị Định nhặt trong xấp thư chung ra một phong bì nhỏ, loại bì thường đựng thiếp, trên đề chữ chị Bảy Huệ bằng mực đỏ. Chị Bảy Huệ vội trả lời: - Tôi mới về, ai biết mà gửi thư? Chị Định: - Chị nhận không, hay để tôi mở coi. Chị Bảy Huệ vội vàng cầm lấy chiếc bì thư: - Không, để tôi coi thử. Tim chị đập rộn ràng. Qua nét chữ, chị đoán là thư anh Mười. Chị lấy làm lạ. Chị ở đấy cả buổi tối, lại cùng ăn cơm chiều, không nghe anh nói gì, anh lại gửi thư theo. Có điều gì anh không tiện nói? Chị hồi hộp đọc thư. Những hàng chữ đẹp nghiêng nghiêng rắn rỏi của anh đối với chị thật đột ngột, bất ngờ. Những lời anh viết ngắn gọn nhưng làm chị xúc động; “Mấy năm ở Côn Đảo, các đồng chí ở Vĩnh Long, Cần Thơ đã nhắc đến chị. Tôi gặp chị lần đầu khi chị thay mặt tỉnh Bạc Liêu đi đón... cho đến nay thấy trong lòng có tình cảm. Đây là lần đầu tiên, tôi có ý định xây dựng gia đình với chị, không biết ý chị thế nào?”. Mấy hôm sau, chị Bảy Huệ phải đi một đợt công tác ba tháng. Đến Bạc Liêu, chị viết thư ngay, sợ anh mong. Chị nói thật những suy nghĩ của mình: “Tôi đã nhận được thư anh nhưng thật lòng chưa nghĩ tới. Gia đình tôi nhà cửa bị Pháp đốt hết, đã dời về U Minh. Mẹ già đi sơ tán, tôi chưa có tin tức. Tôi ở tù ra rồi đi họp Quốc hội, chưa gặp được mẹ”. ...Sau đợt công tác mấy tháng, chị tìm về căn nhà cũ, chỉ gặp được người hàng xóm. Ngày hôm sau, đi bộ suốt một ngày, trời sắp tối, chị Bảy mới đến được nơi bà cụ sơ tán. Chị Bảy bước vào sân. Bà cụ chạy ra, chân đi bước thấp, bước cao, ôm chị khóc. Nhìn mẹ tóc bạc trắng, gầy ốm hơn trước, chị ứa nước mắt, nghĩ: “Mình chưa báo đáp được gì cho mẹ”. Mẹ con chuyện trò mừng mừng tủi tủi. Chị không kìm được nước mắt khi nghe mẹ kể: - May mà má sơ tán sớm chứ không cũng chết rồi. Các ông chức sắc Cao Đài ở chỗ mình vô chùa tụng kinh, Pháp đến chặt đầu mấy ông và đốt luôn chùa. Má thấy con còn sống, má mừng lắm. Tối hôm đó, má hỏi chị: - Con tính chuyện xây dựng gia đình ra sao? Năm nay con 27 tuổi rồi. Chị trả lời: - Chưa đâu má ạ. Con đã hỏi ý kiến gia đình đâu. Má chị nói ngay: - Ở đâu có tập thể thay mặt gia đình là được rồi. Vào đầu năm 1947, sau đợt công tác bốn tháng, chị mới về đến Cơ quan Phụ nữ Nam Bộ. Trông thấy cô Yến ở Văn phòng Hội Phụ nữ chở chiếc xuồng đầy trái cây, rau, gạo ra đón, chị Bảy Huệ hỏi ngay: - Có việc gì đấy em? Yến nhanh nhảu trả lời: - Có đám cưới đấy chị ạ. Chị Bảy ngạc nhiên: - Cưới ai thế em? Yến tủm tỉm cười: - Đám cưới chị. Lại một sự ngạc nhiên nữa. Chị Bảy hỏi: - Đám cưới chị với ai? - Đám cưới chị với anh Mười Cúc. Ngày mai làm lễ tuyên bố rồi, có cuộc hội nghị mà. Nghe dứt câu nói của Yến, chị bỗng thấy bực mình dù trong lòng đã có cảm tình với anh Mười. Chị nói với Yến: - Tui mới đi Hà Nội, lại đi công tác luôn bốn tháng nay. Không hỏi tui, sao cưới tui? Chị vừa bước vào cơ quan, mấy đồng chí xúm lại trêu: - Bà hứa với người ta rồi mà. Chị nhẹ nhàng trình bày: - Chuyện này không có đâu. Anh có hỏi tui đâu mà tui hứa. Tui đi rồi, anh mới gửi thư theo. Anh Nguyễn VănKỉnh cười, nói vui: - Đó là ông Mười chủ quan, tưởng là được rồi. Ngày hôm sau, cuộc họp Xứ ủy mở rộng vừa xong, chị Mười Thập hỏi anh Mười: - Sao, ngày mai có đám cưới không? Anh Mười Cúc trả lời: - Đấy là mấy anh đốc. Các anh thương cả hai người hai lần tù tội, lại nhiều tuổi rồi nên thấy có cuộc họp đông đủ, mới đốc vậy. Anh Quản Trọng Linh vốn biết tính chị Bảy nên cười giảng hòa. Hội nghị Xứ ủy tháng 5/1947 do anh Lê Duẩn chủ trì, có anh Trần Bạch Đằng và chị Hồ Thị Chí dự. Trong cuộc họp, chị Bảy Huệ được phân công về thành phố Sài Gòn phụ trách công tác phụ vận. Lúc này, anh Mười vẫn làm Bí thư Sài Gòn. Về thành phố, chị Bảy Huệ công tác cùng anh Mười Cúc. Quà cưới là một trăm trái gòn khô Đầu năm 1948, chị Bảy Huệ được bổ sung vào Ban Thường vụ Thành ủy Sài Gòn. Sau cuộc họp ở nhà anh Ngô Liên, một đồng chí người Hoa ở gần cầu Chà Và, anh Mười Cúc nói riêng với chị Bảy Huệ: - Ta lên gác thượng nói chuyện một lúc. Hai người đứng trên gác thượng nhìn xuống. Cả thành phố phồn hoa náo động bên dưới. Hai người chú ý nhìn một cảnh tương phản: mấy người ăn xin, quần áo rách rưới lê lết bên đường, giữa sự giàu sang của phố xá ồn ào. Chị Bảy Huệ không nén được xúc cảm của mình: - Còn có những người như thế này, mình còn thoát ly gia đình đi làm cách mạng. Anh Mười Cúc xúc động nói: - Đúng vậy, chúng mình hy sinh và đấu tranh là để xóa bỏ những bất công, lầm than, để cho dân mình ấm no, hạnh phúc. Ý tưởng, ước mơ, lẽ sống của anh cũng là của chị. Chị cảm thấy xúc động. Chưa lúc nào anh đứng gần chị như lúc này. Đôi mắt to đen dưới hàng lông mày rậm, gương mặt nghiêm nghị nhưng mỗi khi anh cười toát lên nét hồn nhiên, lạc quan. Chị muốn nhìn ngắm anh mãi. Anh tâm sự: - Anh thấy rằng khi đã gắn đời mình với cách mạng thì tình yêu, hạnh phúc của mình thuộc tầng lớp nghèo, đều trải qua tù tội, thấm thía nỗi đau của riêng mình với nỗi đau của dân tộc. Những điểm giống nhau đó sẽ giúp chúng mình dễ cảm thông nhau, sẽ biết sống và hy sinh cho nhau. Mắt nhìn mắt, tay chị nắm chặt tay anh. Một mối đồng cảm thiết tha đã gắn kết hai người. Anh và chị đều cảm thấy mối đồng cảm ấy đã tiềm ẩn tự bao giờ. Một ngày tháng 5/1948, lễ tuyên bố giữa anh Mười Cúc và chị Bảy Huệ được tổ chức nhân một cuộc Hội nghị Thành ủy mở rộng. Tối hôm ấy sáng trăng. “Tiệc cưới” là bữa cơm đơn giản ở nhà một đồng chí thân quen ở Gòn Xoài, nay thuộc Bình Chánh, TP HCM. Các đồng chí về dự Hội nghị và một số bà con sống gần đấy chia vui cùng anh chị. Anh Lê Văn Sỹ, em rể chị Bảy Huệ và cũng là người bạn tù thân thiết ở Côn Đảo của anh Mười Cúc, thay mặt Xứ ủy về dự và làm chủ hôn. Anh chở bằng xuồng về món quà cưới rất đặc biệt: một trăm trái gòn khô, đặc sản của vùng Đồng Tháp Mười. Cây gòn mọc hai bên đường Đồng Tháp Mười nhắc nhở những ngày gian khổ ở chiến khu Đồng Tháp. Anh Lê Văn Sỹ cho anh chị trái gòn để làm đôi gối cưới nhưng lúc đó không có vải may áo gối. Hơn nữa, chỉ ba hôm sau là mỗi người đi công tác mỗi nơi, làm gì có nơi ở ổn định mà may gối. Một đêm trăng tròn ở huyện Bình Chánh. Vườn chanh trên bờ ao đang mùa ra hoa. Những cây chanh cao tới ngực, lá lòa xòa. Ánh trăng tràn qua cửa sổ. Gà đã gáy sáng mà câu chuyện tâm tình tưởng chừng như không dứt được. Chị đã khóc khi nghe anh Mười kể về tuổi thơ cơ cực của mình. Cha anh làm nghề dạy học, rất nghèo. Mẹ chạy chợ góp thêm chút đỉnh vào tiền lương ít ỏi của chồng. Lên 4 tuổi, anh đã mồ côi cha. Gánh nặng nuôi 3 chị em, một mình mẹ lo toan. Chị gái anh bị bệnh, qua đời vì thiếu thuốc. Nhiều hôm nhà hết gạo, mẹ tìm trong nhà, không có vật gì đáng giá để cầm, để bán nên phải vay mượn hàng xóm. Tết đến, không có tiền trả nợ, mẹ con ôm nhau khóc. Ba ngày sống bên nhau qua nhanh như một giấc mơ. Chị lên đường đi dự Hội nghị phụ nữNam Bộ. Anh trở lại nhiệm vụ Bí thư Thành ủy với bao gian lao, khó khăn đang chờ đợi. Nhưng từ đây, hai người đã có nhau, cùng vượt qua gian nan, vất vả trong cuộc sống gia đình cũng như trên bước đường công tác. Theo Nguyệt Tú - Nguyệt Tĩnh - (ANTG

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2015

Về Với Làng Kim Bí ,Xã Tiên Phong, Huyện, Ba Vì , Hà Nội

GIỚI THIỆU QUA LÀNG CỔ THÔN KIM BÍ XÃ TIÊN PHONG-HUYỆN BA VÌ-HÀ NỘI Từ Hà Nội theo đường 32 lên Ba Vì ,Cách Hà Nội 52 Km rẽ trái khỏang 2 Km, rẽ phải qua Làng bằng Lũng là Làng Kim Bí.Một ngôi làng cổ xưa tan hoang bởi các Đình đền miếu mạo, chùa triền,quán,điếm và ngay cả cái cổng làng cổ xưa bị phá hết chỉ còn lại dấu tích hoang phế. Mãi tới năm 2011 một số cơ sở thờ tư mới được khôi phục nhưng song rất sơ sài.Người dân ở đầy chủ yếu là làm ruộng ,đồng ruông thì một nửa là trung du ,đồi gò đá ong, Trước đầy còn có các cây công nghiệp như là Trám ,sở, ruông nương trồng săn,nhưng những năm sáu mươi các cây này được chặt làm củi đốt lò gạch, lò ngói,lò thuốc lá…Ngày nay vẫn chưa khôi phục ,dưới các đồi gò là nhũng thung lũng lầy lội, mỗi năm chỉ cấy được một vụ lúa chiêm rét.Còn nửa kia là đồng ruộng tương đối bằng phẳng trồng hoa mầu và cấy lúa bốn mùa được.Dân ở đây rất hiếu học ,Thời cuối Lê có người đã đỗ bảng nhãn .Các di tích ở đây trước kia làng có ba ngôi đình, môt đình giữa làng thờ mục đồng chăn trâu là Thần Hòang Làng ,tương truyền cậu đi chăn trâu nằm ngủ bị mối đắp chết ngài trở lên linh thiêng nên Dân làng Tôn Lên làm Thân Hoàng .Còn môt đinh gọi là đình Tiên ở đầu làng,Theo câu truyện truyền lại ở đình này có một ông Tiên xuống dạy học ba ông và cả ba ông này đỗ đạt, đó là Thám hoa Giang Văn Minh ,sau đi sứ sang tầu với lòng tự tôn và tự hào dân tộc mà ông bị tầu mổ bụng xem gan có to không,ông Phùng Thế Trung Đỗ khoa bảng Năm Quí Hơi nghe nói đươc cai quản ở quốc tử giám và được ghi danh một bia đá Thứ 3 hàng Đầu và ông Lã Khanh trở Thành nhà địa lý có tiếng trong vùng. Ngươi Thầy Kia dây học sinh đố đạt song các trò hỏi thây tên là gi ngươi thầy chỉ lên trơi xanh mây trăng nói hê các ngươi nhìn lên trơi thấy mây trắng chinh là ta , Ta là Bạch Vân Tiên rôi biến mât về sâu Dân lang Lập Đinh Thờ Ngài .Còn Một ngôi đình nữa gọi là đình Cụ , đình này nằm ở xa làng, là nơi tránh nắng ,các cụ ngày xưa đi cày nắng quá lên đình ngồi nghỉ.Ngoài các ngôi đình làng có một Ngôi chùa được tọa lạc dưới bóng một cây Đa cồ thụ ,ước tính tới nghìn năm tuổi, chùa này những năm 63 là trường bổ túc công Nông sau đổi thành Thanh Niên XHCN Ba Vì và ngày nay trường đó được chuyển vào ba trai gọi là trường phổ thông Ba Vi .Trong chùa tượng mới được đắp lại bài tri sơ sài chưa được phục hồi như xưa. Trong Làng còn có bốn điếm trấn ở bốn phương, chốn này là nơi xưa kia người làng thay nhau canh gác bảo vệ làng ,các điếm này đã bị phá hết đến nay chưa được khôi phục lại,ngoài ra còn một điếm ngoài nằm ở ngoai Làng ,cách Làng một cái Cầu nhỏ nay là cái cống.Ở làng còn có bốn nhà thờ của bốn Họ ,đò là nhà thờ Họ Nguyễn Khắc,Nhà thờ Họ Phùng Thế,nhà Thờ Họ Trần Viết,Nhà Thờ Họ Trương Văn, Các nhà Thờ Họ này những năm chiến tranh phá hại Miền Bắc của đế quốc Mỹ, các Nhà Thờ Này biến thành trường học ,Tới nay đã xuống cấp các Họ nghèo đã được khôi phục nhưng không băng xưa. Làng này đã có chiến công đánh giạc Mường ra cướp bóc xương giặc vẫn còn trong lòng sông Tich Giang .Ngày 16 tháng 1 năm 1951 Đai Tướng văn tiến Dũng đã chỉ huy công đồn,lô cốt đầu tiên trong 10 lô cốt ở khu vực Ba Vì bị đánh sâp ,đơn vị nay là tiền thân của sư đoàn 320 ngày nay và những năm chống pháp bồ đội ta cướp được một khẩu pháo 130 ly từ Quốc Lộ 11a nay là quốc lộ 32 , kéo vào Ba Vì đi qua làng , các cụ kể rằng khi đi qua cầu bê tông vướng hai tai cầu ,thế là đập bỏ tai cầu.Những năm trống Mỹ làng này là nơi chú ngụ của các quân binh chủng (hóa học, đặc công,pháo binh) huấn luyện và chuyển quân vào Nam .Nhìn chung làng nay ngày xưa là một ngôi làng cổ,đep và giầu có ,còn để lai nhiều dấu ấn văn hóa xưa ,là một làng có nhiều tập tục đẹp được nhà Vua ban cho là Làng Mỹ Tục bức đại tự của Làng (Kim Bi , Xã, Nghĩa Dân)một làng có nhiều tục đẹp.Một làng những người dân hiên lành ,cần cù lao động,Ham học hỏi đang khởi sắc và hòa nhập vào dòng chảy của thời đại. Mơi Duc Khách ban bè gần xa bôn phương về vơi mảnh đất Giâu chuyền Thống ,đẹp và thấm đậm Tinh Người ,Một địa chỉ dễ mến . ngày 25 tháng 1 âm Hàng Năm là ngày Hội làng được mở mội từ ngày 23 đến ngày 25 Tháng Riêng.Cảm ơn bạn bề và tât cả khách thập phương có lòng hảo tâm .Nguyễn Khắc Long Mail:nguyenkhaclong1955@gmail.com.

Về Với Ba Vì

Từ Hà Nội Theo Đường 32 theo xe bít 70 với quãng đường 75 Km Đi trong vòng 1h30phút là Tới Điểm Cuối Ba Vì ,đây cầu Trung Hà , Bên kia sông nhìn xa xa là dãy núi Nghĩa Lĩnh với chín ngọn núi, trong đó tám ngọn núi châu về phía đỉnh và một ngọn ngoảnh mặt đi, là nơi vua Hùng Vương làm kinh đô dựng nước. Nhìn về hướng đông là núi Ba Vì hay còn gọi là núi Tản Viên. Tản Viên trên núi dưới là sông Đà uốn khúc. Cảnh sắc thơ mộng yên bình trong tiết trời xuân khiến đây chẳng khác chốn bồng lai tiên cảnh nơi hạ giới... thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu- một nhà thơ nổi danh của thời kỳ Thơ mới đã sinh ra ở đay ông lấy đó làm biệt danh cho mình: Tản Đà. Ông đã có bao vần thơ tuyệt bút viết về chốn quê này... Sóng gợn sông Đà con cá nhảy Mây trùm non Tản cái diều bay Theo sách “Bắc – Thành Địa dư chí” của Lê Đại Cương (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia tháng 2/2012): “ Núi Ba Vì ở huyện Bất Bạt, phủ Quảng Oai (nay là huyện Ba Vì, Hà Nội). Hình núi tròn như cái tán nên gọi là Tản Viên, rộng rãi bao la, đứng cao hùng vĩ, làm trấn sơn cho cả một vùng, cao 2.310 trượng, chu vi 18.605 trượng, hướng tây có sông Đà chảy quanh theo, rừng cây rậm rạp, cảnh trí đẹp”. Tại Đền Và thờ Thánh Tản Viên (Sơn Tinh) có đôi câu đối: Châu hình đẩu tiễn thiên hoành không Hạo khí quan mang vạn cổ tồn Có nghĩa là: Dáng hình sừng sừng ngang trời rộng Hạo khí mênh mang vạn thuở còn. Dưới triều Nguyễn, năm Bính Thân, Minh mạng thứ 17 (1836) đúc “ Cửu Đỉnh” biểu tượng cho uy thế và sự bền vững của nhà nguyễn. Minh Mạng cho chạm hình núi Tản Viên vào Thuần Đỉnh (cao 2,32m, nặng 1.950 kg) Núi Ba Vì chiếm một vị trí quan trọng, không những về mặt địa lý mà còn có địa vị độc tôn trong tâm linh người Việt, trong sách “ Dư địa chí” Nguyễn Trãi viết : “Núi ấy là núi tổ của nước ta đó”. Nhất cao là núi Ba Vì, Thứ ba Tam Đảo, thứ nhì Độc Tôn. Sự thực núi Ba Vì chỉ cao 1.296m, núi Tam Đảo lại cao đến 1.581m, nhưng vì núi này là nơi ngự của Thần núi (thần Tản Viên), nên được nhân dân tôn vinh thành ngọn núi cao nhất, thiêng liêng nhất. Núi cao ở đây là cao trong tâm thức, không phải độ cao thấp đơn thuần về mặt địa lý. Núi Ba Vì không chỉ là ngọn núi huyền thoại về Sơn Tinh – Thủy Tinh mà còn là ngọn núi linh của xứ Đoài. Vua nhà Đường đã coi núi Ba Vì như một đầu rồng hùng mạnh, còn thân rồng chạy suốt tới phương Nam (dãy Trường Sơn ngày nay). Theo sách này, để nước Nam không thể phát Vương, vua Đường đã cử Cao Biền (vị tướng kiêm phù thủy) dùng pháp thuật cho đào một trăm cái giếng xung quanh chân núi Ba Vì để trấn yểm tà triệt long mạch nước Việt. Nhưng cứ đào gần xong giếng nào thì giếng đó lại bị sập, nên chúng đành phải bỏ cuộc bởi dãy núi thiêng của nước Đại Việt. Nhắc đến Tản Viên, bất cứ ai là người dân Việt đều không thể quên câu chuyện truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh kể về cuộc chiến đấu giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh để giành lấy công chúa Mị Nương. Câu chuyện tôn vinh sự mưu trí, tài giỏi của thần Sơn Tinh trong việc trị thủy- một sự nghiệp gian nan của cha ông ta trong quá trình dựng nước... Tản Viên Sơn Thánh còn gọi là Sơn Tinh, là vị thần cai quản dãy núi Ba Vì (núi Tản Viên), một trong bốn vị thánh bất tử của người Việt (tứ bất tử: Thánh Tản Viên, Thánh Gióng, Thánh Chử Đồng Tử và Thánh mẫu Liễu Hạnh.). Các sự tích, truyền thuyết về Đức thánh Tản (đặc biệt là truyền thuyết Sơn Tinh-Thủy Tinh), thể hiện khát vọng làm chủ thiên nhiên của người Việt, mở đất, dựng nước. Bước vào nhà nước Văn Lang thời cổ đại, Tản Viên trở thành vị anh hùng truyền thuyết của cả cộng đồng quốc gia dân tộc. Lúc đầu thần được người Mường ở làng Cổ Pháp chân núi Ba Vì lập đền thờ. Rồi các làng vùng Mường ở Hà Tây, Phú Thọ lan rộng ra các làng người Kinh ở Sơn Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ đã có rất nhiều làng thờ thần Tản Viên cùng với thờ Cao Sơn, Quý, Nơi Đây Là mảnh đật địa Linh Nhân Kiệt nơi thổi hồn dân tộc bay bổng Cung vơi Nhân Loại.

Đến Với Ba Vì

Ba Vì là cả một kho tàng thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, giai thoại phong phú và đa dạng, Nơi đây, chốn địa linh đã sinh nhiều nhân kiệt. Nơi có các danh tướng, danh nhân, quan chức nổi tiếng qua các thời.đại, nơi đất “hai vua” Ngô Quyền và Phùng Hưng, nơi của “núi Tản-sông Đà” sinh ra nhà thơ, nhà báo nổi tiếng Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu… Tài nguyên thiên nhiên núi Ba Vì rất phong phú, đa dang. Khí hậu núi Ba Vì trong lành mát mẻ. Từ năm 1932, thực dân Pháp đã chọn núi Ba Vì là nơi nghỉ mát lý tưởng ở đồng bằng Bắc Bộ, giống như Sa Pa ở Tây Bắc, như Đà Lạt ở Tây Nguyên. Vùng núi Ba Vì có rất nhiều danh lam thắng cảnh như Ao Vua, Khoang Xanh–Suối Tiên, Thác Mơ, Thác Đa, Thác Ngà, Thác Hương, núi Đá Chẹ, rừng thông Đá Chông, hồ Xuân Khanh, hồ Suối Hai, hồ Đồng Mô–Ngải Sơn, hồ Tiên Sa, hồ Suối Cả, hồ Suối Bóp, hồ Suối Mít, đồi cò Ngọc Nhị, khu du lịch Đầm Long, vườn quốc gia Ba Vì…
Du Lich Quanh Hồ Tây Hành Trình Du lịch Quang Hồ Tây, Điểm Xuất phát băt đâu Từ đền Quán Thánh theo đường thanh Niên Đến Chùa Trân Quốc một địa Điểm du lich tâm linh đẹp . Chùa thờ phật nhìn chinh hướng tây ,chùa có tuổi đời lâu nhất Hà Nội từ thời Lý khai . Trân Quốc tự nơi tụ hội của tám phái phật giáo ở Việt Nam . phai thảo đường , phái tào Động, phái mật tông ... khám pha nơi nay thi mất cả ngày Tiếp theo hành trinh theo đường hoa yên vào làng yên phụ .một làng nuôi cá cảnh và làm đậu phụ ,làm hương nổi tiếng ở Hà Nội gé Thăm đinh Yên Phụ nơi thờ ba danh tướng giúp nhà Trần chống quân nguyên, Qua Làng Yên phụ là đến khách sạn Thắng Lợi Một khách san đẹp do Cu Ba Viện Trợ Xây Dựng làm trên đất làng nghi Tàm. Làng Nay có Chuyền thống về trồng cây cảnh hàng năm cho thuê kiêm được nhiêu tiền .Làng Có Chùa Kim Liên Nơi Công Chúa Tư Hoa Tu Hóa Phật ,có đinh thờ thủy thần Hồ Tây . làng này cò Bà Huyện Thánh Quan nhà thơ Nổi Tiếng Vơi Bài thờ bước xuống đèo nganh Qua nghi Tàm là đến Quảng an với nghề se chỉ được bán kháp nơi Xóm Tây Hồ có Phủ Tây Hồ nơi Thờ Thánh Mâu điển hinh là bà Liêu Hạnh Mâu phi thên hạ ,mẹ của muôn dân .doc theo đường nay qua mới đầm sen đang đâm trồi ngoi lên mặt nươc, Mua hoa sen nhưng hồ hoa sen nay rất đep nơi để cho nam Thanh Nữ Tu đến chup ảnh khoe sắc sang đương là đên làng quanh Bá,có hồ quảnh Bá nơi Dân nội Thành hay lên Đây bơi buổi sáng buổi chiều hè,dọc theo đường Tô Ngọc Vân là các quán ốc nổi tiêng. Đến đây hanh trinh du lịch quanh Hồ Tây mới chỉ đi được nửa quãng đường thôi ... Tiêp Tục Hành Trình Du Lich quanh Hồ Tây,đi tíếp theo là công viên nước Hồ Tây đây là công viên đẹp bậc nhất Hà nội có chỗ bơi trượt ,lướt sóng ,cho chố trơi cảm giác mạnh … công viên nay lắm trên đấ xã nhật Tân là xã nổi tiêng về nghề trồng đào , ngay thế cố cành đào bích của nhật Tân Thì Tuyệt Vời . Quang Trung Nguyên Huê khi thăng trân Ông đã lên Nhật tân kiêm một cành đào bích mang về Phú Xuân Tặng vợ , Qua công viên Nước là đến chúa Tảo Sách (dọt nắng buổi sớm ) Chú do Sư Cô Thích đàm Hạnh Chủ Trì . Từ Chùa Tảo Sach Sanh Cua Vạn Liên chỉ canh nhâu có một số nhà .Chùa Vạn Niên là của phương xuân La Chù nhìn sanh phía đông Hồ Tây cảnh quan rất đep nhi mặt Nước Hồ Tây Mênh Mông. Bơ tây Hồ Tây lằm tron trong phương xuân La có nhiêu trung tâm và câu lạc bộ ,điển hinh là câu lạc Bộ bơi thuyền ,câu lạc bộ nay đã tham gia nhiêu cuộc thi Quốc Tế. Qua Xuân La Là Tới Phường Bưởi , Đương Hè Thi chạy theo ven Hồ ,dọc theo đương này có chùa Hòe thi và đinh hòe thị.Phương Bưởi Có Đinh Yên thái có làng vệ Hộ Làm Giây Gió ,ở đây đương vào Lang con giữ lại các cổng làng Cổ Rât Đẹp đương nét cổ kinh. Phương bưởi lăm phía bác Hồ Tây và liền kề phường Thụy Khe. Phương Thụy Khê lăm dọc phía bác hồ Tây phương nay nổi tiêng nhà văn ho phan Kế Binh ,phần mộ của ông vẫn lăm bập benh trên mặt Nước Hồ Tây . Phương có inh thụy khê có 9 cây khéo là cây di tích quộc Gia .Phương nay chay tơi tân vườn Hoa Lý Tự Trọng vơi tương Đai trắng toat dáng khỏe khoán hiên nganh và tơi đây cung khếp lai hanh trinh Du Lich Hồ Tây