Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

Đi Qua Mọi Miền Của Đất Nước

Đi Qua Mọi Miền Của Đất Nước ; Năm 1973 năm ấy Tôi 19 Tuổi nhân Được giấy gọi Nhập ngũ ngày 3 Tháng 9 tập chung ở xã chu Minh đến tôi ngay hôm đây lên xe gát 66 đi vao sân bay sao vang thọ xuân Thanh Hóa . Tôi Nhơ chuyến đi xa đâu tiên vào giữa đêm răm ,trăng tỏ lắm ngươc nhìn trời trong đem bao la lung linh những vị sao . Sáng Ngày 4 nhận quân trang với nhưng bộ quân phục gapadi thơm phức ,chúng tôi rủ nhau ra hồ của Nông Trường cá phê sao vang tắm và thay quần áo m...ơi . Tôi Cũng Không Nhờ Ở Sao Vàng Không lâu chắc vào khoảng 10 đến 20 ngày thi lên Xe gát 66 hành quân ra Hà Nội và tập kết tại Trận Địa pháo Nghĩa Dũng Chương Dương Hà Nội. Ở Đây Huấn luyện Điêu Lệnh Đội Ngũ khoảng 3 Tháng Thì Được Điều Lên Sân Bay Kép về căn cứ Yên thế và được điều về tiểu ban huấn luyện Của Trung Đoàn Không Quân 923 và được phân công nghiệp vụ ghi giờ bay ,Công Việc mới lạ lẫm theo các anh lớn tuôi học nghề, Hàng Ngay Theo xe Hải Hâu từ căn cứ ra đài chỉ huy sân bay kép làm nhiệm vụ ghi giờ máy Bay cất ,hạ canh . Đâu Năm 1974 Từ Sân Bay Kép Cơ Đông Bằng Máy Bay Về Sân Bay Kiên An ở đây 10 năm cuối năm 1974 được lệnh cơ động vào sân bay sao vàng ở Đây Sống Vơi nhưng ngay thỏa mái của ngươi lính đến tháng 30 tháng 4 được lênh cơ động đi Hai Phong ra quân cảng lên tâu của đoàn vận tải quân sự hải quân đi theo biển vào Đà Nẵng, Cam Ranh, Tân Cảng rôi đi Cần Thơ đến 15 tháng năm thì vào tới cần thơ và ngày 21 tháng 5 thì thành lập trung đoàn 937 không quân . Cuối năm 1976 được đi phép Về quê . Đi Theo các Trạm Chuyên quân ,Tổng Kho Long Thanh, Phan Rang, Qui Nhơn, Đồng Hơi, Vinh, Tía và ga Hà Nội xuông tàu về Quê Ba Vì. Tôi Còn Nhớ cuôi năm đây sát tết thì trả phép về tới đơn vi thi đã 29 tết âm. Tiếp Tục Sống ở sân bay Cân Thơ đến 7 thang 11 thi nhận được quyết Đinh Ra quân hoan thành nghĩa Vụ Quân Sự . Quả Thời Gian từ Ngày 3 Tháng 9 năm 1973 Tới 7 tháng 11năm 1977 với thơi gian 4 năm 2 tháng 4 ngày Không Nhiêu mà được đi kháp moi miền của đất nước. Tới giờ nghi lai cảm nhận thây tự hào và hạnh phúc được trải nghị trong quân đội được đi đây đi đó,được tân măt nhín thây đất nược ta giầu và đẹp cuộc đời thây tuyệt vơi, Được Mục Thị Đất Nước bất Tân ,Con Người mỗi Miện một tinh cách tao lên vẻ đẹp của con ngươi Việt Nam . Tuyệt Vời.

Kỷ Niệm Chiến Tranh

Nhớ Lại Kỷ Niệm một Chuyến đi xa. Từ Tháng 3 năm 1975 bồ đội ta mở nhiêu trân đánh lớn quân ta thừa thắng Sốc tới giải phóng Buôn Mê Thuột,Quảng Trị, Huế ,Đà Nẵng , khánh hòa, Phan Rang ,Phan Thiết , Xuân Lộc rôi Sài Gòn . Ngày 1 Tháng Năm 1975 Chúng Tôi Được lệnh đi công Tác Từ Sân bay Sao Vàng Thọ Xuân Thanh Hóa, được Phát Quân trang quân dụng ra Xe gát 66 trở ra Huyện Đông Sơn Thanh Hóa ngủ ở đây một đêm rôi lên tâu hỏa xa chay ra Hà Nội, xuống Hải Phòng đến Quân Cảng Hải Phòng lên Tầu Đoàn Cá Kinh vân tải quân sự của Quân Chủng Hải Quân Đi Vào Nam. Tầu Xuất Phát vào khoảng 5h chiều từ Hải phòng hướng ra Biển Đông ra tới Biển Đông Trời Đã Tôi có lẽ vào khoảng 7 ,8 giờ gì đó thi thấy các chiến Sỹ Hải quan Nói Đã Vượt qua phao số không . Ở Ngoài Biển về đêm mù mịt nhin xa là nhưng ánh đèn của ngư Dân đánh cá .Đêm hôm đây không ngủ Được trên Tầu có tới 500 lính Người ngôi người đứng ,người trên khoang, người dưới hầm Tâu,Người nôn vì say sóng . Đến Sáng Ngày mùng 2 Tầu vẫn lướt sóng lúc nay đã nhìn thấy Hoàng hôn trên biển Thật Đẹp , nhìn xuống hai bên sườn Tầu Từng đàn cá Heo dượt đuổi theo Tầu thật đẹp . Chiều hôm đây Tầu cuả chúng tôi cặp Quân Cảng Đà Nẵng ngủ ở đây Một Đêm để ngày hôm sau đi Tiếp.Đêm hôm đấy cũng không ngủ vi tàn Quân Ngụy dạt nên núi bán đảo Sơn Trà Đêm Xuống quấy nhiễu ,rồi cũng qua .Ngày hôm sau 3 đi tiếp cũng một ngày nữa đến Quân Cảng Cam Ranh Tầu vào Cảng Cam Ranh và Nghỉ Một đêm nữa Ở đây Tới Ngày 4 Thì Tầu lại ra khơi Vượt Sóng tới Vũng Tâu Nhìn ở Ngoài thấy Thành Phố Vũng Tầu và Nhìn Thấy Tượng Đúc Chúa Resu Trên Đỉnh Núi Nhìn ra Biển, Tầu Không vào đây mà hướng vào Sông Sài Gòn , kia là Khu Xăng Nhà Bè mầu trắng toát bạt ngàn những bồn chứa Xăng.Tầu vào Sông Sài Gòn hai bờ Sông là Dừa Nước mầu xanh đi gần tới Chiều thì Thành Phố Sai Gòn Xuất Hiên những Tòa Nhà Cao Tầng Phía bên Trái là nhìn thấy Tượng Trân Hưng Đạo Bên bờ Sông Bạch Đăng Uy Nghi ,Tầu Từ Từ Vào Quân Cảnh Sai Gòn .Đây là Quân Cảng Cuối Cùng lên Tầu . Sáng Hôm sau lên các chiếc xe GMC và đi Một mạch xuống sân Bay Cần Thơ tiêp quản sân Bay và Sư Đoàn 4 Không của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa do Chẩn Tướng Nguyễn Hưu Tần là Sư trưởng ,Tư lênh Quân Chủng Không Quân Việt Nam Công Hòa ban giao căn Cứ . Các Thủ Trưởng Nhận Bàn Giao nhận chỗ ở thế là kết thúc một chuyên đi xa và đến Ngày 15 tháng 5 Năm 1975 Bộ Đội ta Duyệt Binh Mừng Chiến Thắng Tại Sai Gòn .Những Ngày ấy vẫn côn mãi mãi trong ký ức Của những người linh chúng tội.

Trung Đoàn 937 Của Tôi

Chuyện Kể Về Người anh Hùng Không Quân Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 937 Đầu Tiên Năm 17 tuổi, ông bị ép cưới vợ. Nhưng vì chẳng muốn lập gia đình sớm, ông Bảy trốn cha mẹ rồi tham gia cách mạng. Năm 1960, tức 6 năm kể từ ngày tập kết ra Bắc, ông là một trong số rất ít được chuyển từ một sư đoàn bộ binh sang không quân, rồi được chọn đi học lái máy bay. "Hồi đó tao cao 1 mét 67, nặng 69 ký. Ông bà, cha mẹ đều là nông dân. Nằm mơ tao cũng không nghĩ là mình được đi học lái máy bay" - ông Bảy bộc bạch với giọng cởi mở thân tình với chúng tôi. Ông kể để được học lái máy bay, ít nhất cũng phải xong lớp 10/10 (tương đương lớp 12 hiện nay), trong khi ông mới học tới lớp 3. Vậy là chỉ có đúng một tuần học văn hóa, theo phương châm "cần gì, học đó", ông hoàn thành xong… 7 lớp. Xong phần lý thuyết cơ bản lái máy bay ở trong nước, ông được đưa sang Trường Hàng không Số 3 ở TP Cẩm Châu, tỉnh Liêu Ninh - nơi đào tạo lái máy bay tốt nhất nhì của Trung Quốc bấy giờ. Đoàn học viên của Việt Nam được đào tạo lái máy bay MiG-17 lúc đó chỉ có 34 người. Từ lý thuyết đến thực hành là cả một quá trình khó khăn, phức tạp. "Tiền đình của tao không ngon lắm. Hồi mới vô huấn luyện, hễ leo lên buồng lái là tao ói tới luôn. Vậy là lấy ruột trái banh, cắt bỏ 1/3 rồi đeo vào cổ, lúc nào mắc thì ói vào đó" - ông kể. Học lái MiG17 nhưng có lúc, ông và các đồng nghiệp thực hành trên máy bay K-56. Để đảm bảo an toàn, ban đầu "bạn làm ta xem", sau đó thì chuyển sang giai đoạn "ta làm bạn xem". Khó, nhưng tất cả đều nỗ lực vượt qua. Đêm mồng 4 rạng ngày 5/8/1964, Mỹ dựng lên "sự kiện Vịnh Bắc Bộ", cho không quân Mỹ ném bom bắn phá một số nơi trên miền Bắc như cửa sông Gianh, Vinh - Bến Thủy, Lạch Trường, thị xã Hòn Gai… mở đầu "chiến tranh phá hoại miền Bắc" lần thứ nhất. Khi được tuyên dương Anh hùng LLVTND, phi công Nguyễn Văn Bảy mới mang cấp hàm Thượng úy. Trở về nước năm 1965, ông Bảy thuộc biên chế của Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 (mật danh Đoàn Yên Thế) và tham gia chiến trận đầu tiên trên vùng trời Bắc Sơn - Chi Lăng. "Ở Mỹ và các nước phương Tây, phi công phải thực tập bay trung bình từ 5.000 - 7.000 giờ mới được tham chiến. Nhưng tình hình của ta lúc đó, phi công nào bay nhiều nhất cũng chỉ khoảng 300 giờ" - ông cho biết. 10h ngày 7/10/1965, 4 chiếc MiG-17 của ta cất cánh. Được 10 phút, ta phát hiện máy bay Mỹ nên Biên đội trưởng quyết rượt theo một chiếc F-4. Phát hiện bên trái chiếc MiG-17 Biên đội trưởng xuất hiện 4 máy bay địch, ông Bảy đang bay phía sau yểm trợ, báo cáo và xin ý kiến phản kích. Đội trưởng vừa dứt lời, ông Bảy lái chiếc MiG-17 đối đầu với 4 máy bay địch khiến chúng phải quay đầu. Bỗng phía sau xuất hiện chiếc F4 khác của địch bám sát rồi nã đạn pháo làm máy bay ông bị trúng đạn. "Tao phát hiện kính mê-ca buồng lái dày cả 2 phân bị một vết thủng lớn, khoảng trên 30cm. Đặc biệt, ngay vị trí kính trước vị trí tam tinh của tao, có một vết bằng cái đít ly uống trà nhưng tao không bị gì. Lúc này, máy bay đang ở tốc độ khoảng 700km/giờ. Tao lại nhớ đến lý thuyết đường sóng, ống vòng về thủy khí động lực: tốc độ càng lớn thì áp suất càng nhỏ và ngược lại, nên dùng tay bịt lại dù rất sợ áp suất không khí kéo tay tao ra ngoài. Tao cố gắng trấn tĩnh và lấy tay còn lại kéo cần điều khiển đưa "con" MiG-17 hạ cánh. Anh em đồng đội vui mừng hò reo nhất là khi thấy máy bay tao hạ cánh an toàn dù bị dính tới 82 vết, mảnh đạn pháo. Chỉ huy nói nếu lúc đó, tao xin nhảy dù, chỉ huy duyệt liền" - ông kể. Theo đánh giá của các chuyên gia Liên Xô sau này, đấy là chiến tích chưa từng xảy ra trong lịch sử hàng không nói chung trên thế giới - máy bay bị "lủng lỗ" cùng lúc nhiều vị trí nhưng phi công vẫn hạ cánh an toàn. Ông Bảy cho biết, ông có đến 13 lần cùng đồng đội (mỗi người 1 chiếc) xuất kích, trong đó có 7 lần ông ra tay và cả 7 lần, địch đều phải trả giá đắt. Chiến công đầu tiên của ông Bảy được lập ngày 21/6/1966. Hôm đó biên đội 4 chiếc MiG-17 của ta phát hiện nhiều máy bay Mỹ, trong đó có một máy bay trinh sát RF-8A được hộ tống bởi chiếc F8 Crusader vốn được mệnh danh là "hiệp sĩ thánh chiến" của Phi đội 211 Mỹ. Biên đội trưởng Phan Thành Trung đã tiêu diệt chiếc RF-8A; còn phi công Bảy hạ chiếc F-8E do Cole Black điều khiển. Đến các ngày 24 và 29/6/1966, phi công Bảy tiếp tục lập công - bắn rơi máy bay F-4C và F-105D trên bầu trời Thái Nguyên, Việt Trì và Hà Nội. Ngày 21/9/1966, trên bầu trời Chí Linh (Hải Dương), 16 máy bay F-4 và F105 địch chia thành nhiều tốp, nhiều tầng, nhiều hướng bao vây biên đội 4 máy bay ta. Trận này, địch bị ta hạ 3 chiếc, trong đó phi công Bảy hạ một chiếc F-4… Hớp ngụm nước trà, ông Bảy cho biết khi ngồi vào vị trí lái máy bay chiến đấu, người lái chẳng khác người mù, phải chịu sự điều khiển từ bộ phận rađa ở mặt đất. Tuy nhiên, khi phát hiện địch rồi, mình phải khẩn trương vạch ra phương án chiến đấu để báo cáo chỉ huy. Có một chi tiết khiến địch luôn bị thiệt hại mỗi khi gặp phi công Nguyễn Văn Bảy chính là lối đánh áp sát đối phương. Ông tâm đắc, kể: "Khi huấn luyện bay, khoảng cách tối thiểu để nhả đạn phải là 800m, còn gần hơn thì được xếp vào tình huống mất an toàn, rất dễ đụng nhau với đối phương, rồi mình cũng banh xác. Thế nhưng nhớ lại, trước khi mỗi lần ra tay, ấn nút, tao đều áp sát đối phương, chỉ còn cách 200 - 300m". Nhắc đến lối đánh áp sát đối phương, ông Bảy nhắc lại "trận nhớ đời" mà ông cùng bạn chiến đấu quê Bến Tre là Võ Văn Mẫn (sau đó hy sinh, là Anh hùng LLVTND - PV) đã chiến đấu với địch trên bầu trời khu vực cầu Giẽ (Hà Tây) "Cả ngày được phân công trực bầu trời, chẳng thấy gì. Tới chiều, tao và Mẫn được lệnh trở về sân bay thì phát hiện 2 chiếc máy bay địch như hai chấm nhỏ ở phía trái. Ban đầu, tao tưởng 2 chiếc F-8 tăng tốc để tấn công tụi tao ai dè nó tháo lui nhanh ra hướng biển. Tao quyết định xé mây, bay tắt để đón chúng. Tình huống này khó lắm bởi nếu mình cúp đường bay trước đầu nó thì coi như mình đưa lưng cho nó bắn; còn nếu cúp chậm hơn thì vuột mất nó nên phải tính kỹ để sao vừa luồn qua mây là bám sát đuôi nó. Khó nhưng phải làm ngay. Thật đúng lúc, vừa ra khỏi đám mây thì 2 chiếc MiG của tao và Mẫn đã bám theo sát đuôi chúng. Tao truyền lệnh, đề nghị Mẫn bắn chiếc bên trái, phần tao xử chiếc bên phải. Trận này thiệt ngon, chỉ có 45 giây mà tao và Mẫn hạ 2 chiếc F-8 của tụi nó. Ngay sau trận hôm đó, tao và Mẫn được Bác Hồ gửi tặng huy hiệu của Người". Cũng xuất kích bí mật từ sân bay Kiến An (Hải Phòng), ngày 21/9/1966, ngay sau khi phát hiện chiếc F-4 của địch sắp nã đạn vào chiếc MiG-17 của phi công Mẫn, ông Bảy với vai trò chỉ huy đã khẩn trương lệnh cho Mẫn lập tức ra khỏi tầm ảnh hưởng, thế là 2 quả tên lửa của địch tự "đá vào lưới nhà" khiến chiếc F-4 phía trước của chúng gãy làm đôi. Còn phi công Mẫn đang bị kẹp giữa 8 chiếc F-4 khác nhưng chúng không thể ra tay được trong khi ông bắn hạ 1 chiếc rồi nhanh chóng biến mất. Nhắc đến Bác Hồ, ông Bảy kể tôi nghe câu chuyện mà ông không thể nào quên. Đó là chiều 12/12/1966, sau Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước toàn quốc, ông Bảy vinh dự cùng 37 chiến sĩ không quân có thành tích xuất sắc được vào Phủ Chủ tịch gặp Bác Hồ. Người tươi cười hỏi: "Chú nào bắn rơi 4 máy bay Mỹ trở lên?". Sau khi nghe đồng chí Chính ủy Quân chủng Đặng Tính báo cáo, Bác đề nghị: "Chú Bảy, chú Mẫn, chú Trung đâu, đứng lên cho Bác biết?". Ông Bảy cùng hai đồng đội đứng dậy sung sướng. Còn Bác thì tỏ ra rất hài lòng. Tư lệnh Phùng Thế Tài báo cáo thêm với Bác, trong đó có nhắc đến chiến công hai phi công Bảy và Mẫn chiến đấu cùng một biên đội trong trận chiến với địch ngày 5/9/1966 đã diệt gọn 2 chiếc F-8 của Mỹ, nên ngay tối hôm đó đã được Bác gửi tặng hai huy hiệu. Giọng Bác ôn tồn: "Bác nhớ rồi. Hai chú đều quê ở miền Nam, chú Bảy ở Sa Đéc, còn chú Mẫn ở Bến Tre phải không? Bác hoan nghênh chiến công của tất cả các chú". Ông Bảy kể, sau đại hội này, tinh thần của ông và nhiều anh em như chiếc đồng hồ được lên… dây cót. Chỉ mong được lệnh xuất kích… Chiều 24/4/1967, biên đội 4 chiếc MiG-17 bí mật hạ cánh xuống sân bay Kiến An phục kích địch. Đến 16 giờ 30 phút, đúng như tin ta nắm được, nhiều tốp F-4 và F-105 của địch xuất phát từ hướng biển bay vào nhằm hướng khu vực Đông Triều (Quảng Yên). Biên đội xuất kích, được dẫn vòng đến khu vực Sơn Động (Hà Bắc), thuận ánh mặt trời dễ quan sát. Khi phát hiện địch phía bên phải, cách 10km, chiếc MiG-17 của phi công Nguyễn Bá Địch được lệnh vứt thùng dầu phụ để tăng lực, cùng Võ Văn Mẫn đánh tốp đầu. Sau vài phút rượt đuổi, một chiếc F-4 của địch bị bắn hạ. Lúc đó, ông Bảy cùng một đồng đội đang quần nhau với 4 chiếc F-4 ở tầm thấp hơn. Thế trận xen kẽ, ông Bảy đang bám 2 chiếc F-4 phía trước. Sau ông lại có 2 chiếc F-4 bám đuôi. Ông Bảy tiếp cận chiếc F-8C của Phi đội 24 do Thiếu tá hải quân E.J.Tucker lái điều khiển và ông ấn nút khẩu 37mm. Chiếc F-8C bốc cháy. E.J.Tucker nhảy dù và bị bắt. Những chiếc F-4B của Phi đội 114 hộ tống thấy thế tăng lực, tiếp cận công kích lại nhưng chúng đã chậm hơn chiếc MiG-17, đành phải rút lui. Ông Bảy kể cho chúng tôi nghe trận đánh cũng thuộc dạng "hiếm có" xảy ra năm 1967 trên vùng trời Sơn Động (Hà Bắc): "Trận này, tụi nó thua đau và tức điên" - ông Bảy khoái chí, nhớ lại: "Tao chỉ huy biên đội 4 chiếc MiG-17 quần nhau với 6 chiếc F-4 ở tầm thấp. Khi đó, tao đang tăng lực bám theo một thằng F-4 ở độ cao chỉ cách mặt đất 100mét. Một chiếc F-4 thấy thế bám theo tao. Đoán biết nó đang phóng hỏa, tao lập tức lật cánh, chuyển hướng. Thế là chiếc F-4 phía trước tao lãnh đủ. Coi như trận này tao không tốn viên đạn nào mà vẫn làm thiệt một thằng F-4"… Nhà ông Bảy nằm giữa đồng. Trước nhà ông là con kênh xáng cũng là ranh giới hành chính giữa thị trấn Lai Vung với xã Tân Dương. Để tới được nhà ông, từ trụ sở UBND xã Tân Dương, chúng tôi phải đi thêm khoảng 5km, theo con đường nhựa cũ, khá hẹp lại có rất nhiều cầu; sau đó rẽ trái vào nhà ông theo một lối đi nhỏ được trải đá dăm. Ngay từ trước khi bước vô căn nhà cấp 4 của ông Bảy, chúng tôi nhận ra tố chất cần cù của ông Bảy dù rằng năm nay, ông đã bước vào tuổi 80. Mảnh sân nhỏ trước nhà ngoài phần diện tích ông để cho con cháu cùng xóm phơi lúa, ông trồng đủ thứ rau, củ, quả, hoa kiểng và cây thuốc nam. Trên tường mặt tiền nhà mình, ông Bảy cho chạm phù điêu của quân chủng mà ông từng lẫy lừng với những chiến công đặc biệt. Tôi hỏi điều khiến ông tâm đắc, hạnh phúc nhất, ông Bảy nói chính là đã vinh dự nhiều lần được gặp Bác, nghe theo lời Bác, học, chiến đấu hết mình. Giọng Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy bỗng chùng xuống khi nhắc lại ngày Bác mất. Ông kể, vào ngày 9-9-1969, đúng vào thời điểm thiêng liêng, xúc động trong lễ tang Bác, trên bầu trời Hà Nội xuất hiện hai biên đội MiG-21 và MiG-17 bay thật thấp qua Quảng trường Ba Đình nghiêng cánh chào vĩnh biệt Bác. Phi đội trưởng của nhóm MiG-17 gồm 12 chiếc do ông làm Phi đội trưởng. Ôn lại chặng đường chiến đấu vẻ vang của mình, ông Bảy rất tự hào được anh em đồng chí đánh giá là người luôn giành phần nguy hiểm về mình nhiều nhất. Ông cũng là chiến sĩ không quân đầu tiên được bầu vào Quốc hội (khóa IV và nửa nhiệm kỳ khóa V thì miền Nam hoàn toàn giải phóng - PV), là một trong 3 phi công được Bác Hồ tuyên dương Anh hùng LLVTND đầu tiên trong đợt tuyên dương anh hùng thời chống Mỹ, cứu nước đầu tiên ở miền Bắc, là Anh hùng không quân được mời tham gia Đoàn chủ tịch đại hội, các cuộc mít tinh của quân đội và Nhà nước nhiều lần nhất… Về kỷ niệm kể từ sau ngày về hưu, trở thành "Anh hùng Bảy lúa", ông kể tôi nghe lần ông gặp lại "đối thủ trên không" của mình - tướng phi công Mỹ Steve Richie. Một trong những việc mà Steve Richie làm khi quay trở lại Việt Nam lần đó là về Đồng Tháp, quyết tìm lại cho bằng được Anh hùng Nguyễn Văn Bảy - người phi công năm xưa đã bắn hạ chiếc F-4 mà ông ấy từng lái. Tướng Steve Richie xin kết bạn, nói lời cảm ơn ông Bảy vì đã cứu sống ông ta trong chiến tranh. "Hôm đó, tao tiếp Steve Richie bằng một bữa cơm gạo thơm, có thịt gà thả vườn, cá dưới ao và rượu tự nấu. Steve Richie vừa ăn vừa khen ngon. Ông ta cũng khâm phục luôn cái tài làm nông dân của Bảy lúa" - ông Bảy kể. Thái Bình

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2015

Nước Mỹ đang xuống dốc

Washington tự đánh mất sức mạnh. Hoa Kỳ từng là siêu cường duy nhất trên thế giới vào cuối nhiệm kỳ Tổng thống George Bush cha. Thế mà sức mạnh đó không còn nữa Nguyên nhân 1. Một phần là do sự trỗi dậy của các cường quốc mới nổi 2. Họ có quá nhiều kẻ thù và quá nhiều đồng minh phải phải bảo kê ( Bảo Vệ ) 3. Họ Ngạo mạn, sai lệch về nhân sinh quan, quá hiếu chiến 4. Chinh sách ngoai giao Nixon và Reagan từng tập trung nỗ lực lớn chia tách Nga và Trung Quốc, vun đắp quan hệ đối tác riêng với từng nước. Tuy nhiên mục tiêu cuối cùng đã không đạt được 5.Say sưa tận hưởng "chiến thắng" trước Liên Xô xụp đổ 6.Ở Trung Đông. Dưới chiêu bài chống khủng bố, Mỹ nhảy vào Iraq nhưng chỉ mang đến sự đảo lộn xã hội; chiếm đóng Afghanistan, lật đổ chế độ Gaddafi ở Libya, nhưng đã “phóng thích" các con quỷ Hồi giáo cuồng tín và cực đoan. 7.Trong quan hệ với Trung Quốc. Washington một mặt lớn tiếng chống Bắc Kinh nhưng thực tế là buông lỏng thậm chí là “o bế” Trung Quốc và đã phải trả giá cho hành động “ Tất cả những nguyên nhân đo làm cho Nước Mỹ yếu khố gượng đậy

Cơn giông

Cơn giông chiều thư bảy ngày 13 thang 6 năm 2015 Cơn giông bắt đầu khoảng 16h30 tại hầu hắp tuyến phố của Hà Nội. Khoảng 20 phút sau xuất hiện mưa lớn. Gió mạnh kèm mưa mỗi lúc một nặng hạt khiến nhiều tuyến phố như chìm trong bão lốc. Cây cối ngả nghiêng, nhiều người đi đường chạy tán loạn vì bất ngờ. Mái tôn và các phông bạt che ban công tại nhiều khu chung cư ở quận Thanh Xuân, Hoàng Mai bị bật tung, bay khắp nơi, thậm chí nhiều mái tôn bị cuốn văng xa vài chục mét. Có nơi bị gió quật đổ cả bồn nước trên mái nhà, cuốn phăng xuống đường.

Thời Sinh Viên

Thời Sinh Viên Ngày 7 Tháng 11 Tôi ra Quân xuất ngũ Về Quê tham gia lao động ở hợp tác xã đến 3 tháng 9 lên trường Thanh Niên Xã Hội Chủ Nghiã Ba Vi nhập học, học tiếp lớp 10 .hồi đó tôi vào lớp 10 với tuổi đời đã 23 lớn nhất lớp so với các ban học cùng lớp .Tôi hơn 5 tuổi với bạn họ và được phân công làm lớp trưởng .Một năm vừa học vùa làm và đến tháng 5 thì thi tốt nghiệp tháng 7 thì đại học may tội được ưu tiên cộng điểm lên được vào học dự bị đại học một năm Của trường Đại học tai chinh kế toán Hà Nội . Học Dự Bị Một Năm thi thi chuyển sang học đại học dài han, được phân vào học Lớp Thu Quốc Doanh khoa tai Chính ,Đai Học Tài Chinh Hà Nội .Học hơn 4 năm 6 tháng trong trường với biết bao Kỷ niệm của thời bao cấp như dói vì thiếu gao phải ăn bobo,khoai lang thay gạo thay bánh mì .Không có điên phải Dung Đèn Hoa Kỳ. Tối còn nhớ cứ tối đến mỗi học sinh Cầm cái đèn Hoa kỳ lên giảng đường học. nhà thì nhà dã chiến băng ván ép mai tôn Thụy Điển trời nóng thi nóng dữ dôi trời rét thi rét căt tay. Ở Thì Ở những ngôi nhà mái lợp phên Lứa ,ở giường tâng đứng lên tâng hai rút Tỉa phên nứa để nâu cơm. Học ,ăn Ở Vất vả là vây nhưng vẫn lạc quan ,Tôi còn nhờ Nhưng Đêm liên hoan văn nghệ trường trời ret vẫn khoác chăn đi xem Văn nghệ ,hồi đó tôi thích nghe bài hát hanh khúc ngày và đêm do Anh Cam Thành Lớp 17-04a thể hiện , thích nghe tiếng đàn gita điện ngân vang của anh Hoàng người Hà Nội ở 24 Trân Hưng Đạo Chơi .Sau nay ra công tác tội có dịp gặp lai anh với chức danh Anh là Ông Giam đốc Xí Nghiệp vận Tai Nam Của Tổng Vận Tải Hà Nội. Còn Đi Chơi Ư Chúng Tôi thường Tụ Tập Ở Quán Nược Chú Bi, Quán Nươc Sang Hơn là nhà ông Cảnh ở Cổng Trường,Hoặc Đi Chợ Mua rau và các Thứ cải Thiện. Hồi ây chúng tôi hay đi ra chợ phúc yên ở thị xã Phúc Yên. .Đi Chơi xa Hơn thi đi lang thang ra thị xã phúc Yên,Phúc Lớn, Tiền châu, Thánh Tước,Xuân Hòa hay lên sân vân động Vính Yên xem đá bóng. Trường Đại Học Tài Chinh Những Thập Kỷ 70,80 ở bên cạnh sông Kà Lồ Thuộc Thị Xã Phúc Yên ,dòng sông này nước chảy lơ đờ buổi chiều học song chúng tôi thường ra đây tắm ,bơi dọc Sông tới 1 hai cây số. Đời Sinh Viên Nhớ Nhất Nhưng Ngày Nhảy Tầu Họăc Đi ôtô mỗi khi về quê hay lên trường. Thơi Sinh Viên Cũng Nhanh Qua Thoảng Cai hết năm năm học với bao vât vả với bao kỷ niệm vui buồn được lưu vào ký Ức để đến một lúc nào đây thăng hoa.Đến 9 tháng 3 năm 1984 tạm việt Đời Sinh viên về nhận Công Tác Ở chi cục thu quốc doanh và quản lý tai chính các xi nghiệp Trung ương Hà Nội bắt đâu một cuộc sống mới.

Quê Hương Tôi

GIỚI THIỆU QUA LÀNG CỔ THÔN KIM BÍ XÃ TIÊN PHONG-HUYỆN BA VÌ-HÀ NỘI Từ Hà Nội theo đường 32 lên Ba Vì ,Cách Hà Nội 52 Km rẽ trái khỏang 2 Km, rẽ phải qua Làng bằng Lũng là Làng Kim Bí.Một ngôi làng cổ xưa tan hoang bởi các Đình đền miếu mạo, chùa triền,quán,điếm và ngay cả cái cổng làng cổ xưa bị phá hết chỉ còn lại dấu tích hoang phế. Mãi tới năm 2011 một số cơ sở thờ tư mới được khôi phục nhưng song rất sơ sài.Người dân ở đầy chủ yếu là làm ruộng ,đồng ruông thì một nửa là trung du ,đồi gò đá ong, Trước đầy còn có các cây công nghiệp như là Trám ,sở, ruông nương trồng săn,nhưng những năm sáu mươi các cây này được chặt làm củi đốt lò gạch, lò ngói,lò thuốc lá…Ngày nay vẫn chưa khôi phục ,dưới các đồi gò là nhũng thung lũng lầy lội, mỗi năm chỉ cấy được một vụ lúa chiêm rét.Còn nửa kia là đồng ruộng tương đối bằng phẳng trồng hoa mầu và cấy lúa bốn mùa được.Dân ở đây rất hiếu học ,Thời cuối Lê có người đã đỗ bảng nhãn .Các di tích ở đây trước kia làng có ba ngôi đình, môt đình giữa làng thờ mục đồng chăn trâu là Thần Hòang Làng ,tương truyền cậu đi chăn trâu nằm ngủ bị mối đắp chết ngài trở lên linh thiêng nên Dân làng Tôn Lên làm Thân Hoàng .Còn môt đinh gọi là đình Tiên ở đầu làng,Theo câu truyện truyền lại ở đình này có một ông Tiên xuống dạy học ba ông và cả ba ông này đỗ đạt, đó là Thám hoa Giang Văn Minh ,sau đi sứ sang tầu với lòng tự tôn và tự hào dân tộc mà ông bị tầu mổ bụng xem gan có to không,ông Phùng Thế Trung Đỗ khoa bảng Năm Quí Hơi nghe nói đươc cai quản ở quốc tử giám và được ghi danh một bia đá Thứ 3 hàng Đầu và ông Lã Khanh trở Thành nhà địa lý có tiếng trong vùng. Ngươi Thầy Kia dây học sinh đố đạt song các trò hỏi thây tên là gi ngươi thầy chỉ lên trơi xanh mây trăng nói hê các ngươi nhìn lên trơi thấy mây trắng chinh là ta , Ta là Bạch Vân Tiên rôi biến mât về sâu Dân lang Lập Đinh Thờ Ngài .Còn Một ngôi đình nữa gọi là đình Cụ , đình này nằm ở xa làng, là nơi tránh nắng ,các cụ ngày xưa đi cày nắng quá lên đình ngồi nghỉ.Ngoài các ngôi đình làng có một Ngôi chùa được tọa lạc dưới bóng một cây Đa cồ thụ ,ước tính tới nghìn năm tuổi, chùa này những năm 63 là trường bổ túc công Nông sau đổi thành Thanh Niên XHCN Ba Vì và ngày nay trường đó được chuyển vào ba trai gọi là trường phổ thông Ba Vi .Trong chùa tượng mới được đắp lại bài tri sơ sài chưa được phục hồi như xưa. Trong Làng còn có bốn điếm trấn ở bốn phương, chốn này là nơi xưa kia người làng thay nhau canh gác bảo vệ làng ,các điếm này đã bị phá hết đến nay chưa được khôi phục lại,ngoài ra còn một điếm ngoài nằm ở ngoai Làng ,cách Làng một cái Cầu nhỏ nay là cái cống.Ở làng còn có bốn nhà thờ của bốn Họ ,đò là nhà thờ Họ Nguyễn Khắc,Nhà thờ Họ Phùng Thế,nhà Thờ Họ Trần Viết,Nhà Thờ Họ Trương Văn, Các nhà Thờ Họ này những năm chiến tranh phá hại Miền Bắc của đế quốc Mỹ, các Nhà Thờ Này biến thành trường học ,Tới nay đã xuống cấp các Họ nghèo đã được khôi phục nhưng không băng xưa. Làng này đã có chiến công đánh giạc Mường ra cướp bóc xương giặc vẫn còn trong lòng sông Tich Giang .Ngày 16 tháng 1 năm 1951 Đai Tướng văn tiến Dũng đã chỉ huy công đồn,lô cốt đầu tiên trong 10 lô cốt ở khu vực Ba Vì bị đánh sâp ,đơn vị nay là tiền thân của sư đoàn 320 ngày nay và những năm chống pháp bồ đội ta cướp được một khẩu pháo 130 ly từ Quốc Lộ 11a nay là quốc lộ 32 , kéo vào Ba Vì đi qua làng , các cụ kể rằng khi đi qua cầu bê tông vướng hai tai cầu ,thế là đập bỏ tai cầu.Những năm trống Mỹ làng này là nơi chú ngụ của các quân binh chủng (hóa học, đặc công,pháo binh) huấn luyện và chuyển quân vào Nam .Nhìn chung làng nay ngày xưa là một ngôi làng cổ,đep và giầu có ,còn để lai nhiều dấu ấn văn hóa xưa ,là một làng có nhiều tập tục đẹp được nhà Vua ban cho là Làng Mỹ Tục bức đại tự của Làng (Kim Bi , Xã, Nghĩa Dân)một làng có nhiều tục đẹp.Một làng những người dân hiên lành ,cần cù lao động,Ham học hỏi đang khởi sắc và hòa nhập vào dòng chảy của thời đại. Mơi Duc Khách ban bè gần xa bôn phương về vơi mảnh đất Giâu chuyền Thống ,đẹp và thấm đậm Tinh Người ,Một địa chỉ dễ mến . ngày 25 tháng 1 âm Hàng Năm là ngày Hội làng được mở mội từ ngày 23 đến ngày 25 Tháng Riêng.Cảm ơn bạn bề và tât cả khách thập phương có lòng hảo tâm .Nguyễn Khắc Long Mail:nguyenkhaclong1955@gmail.com.