Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015

Tổng Thống Reagan

 Tổng Thống Reagan
- Ông đã hướng cuộc chiến trang giữa con ngươi ra ngoài trai đất đo là học Thuyết chiến tranh giữa các vì sao
Reagan thương thuyết với Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô làMikhail Gorbachev và kết quả đỉnh điểm là sự ra đời của Hiệp ước Lực lượng Hạt nhân tầm trung và việc giảm thiểu kho vũ khí hạt nhân của cả hai nước.
Reagan thách thức Gorbachev đi xa hơn nữa qua lời nói:

Liên Xô

 Những Nguyên Nhân Dẫn đến Liên Xô Xụp Đổ ;
- Nhưng các chi tiêu quân sự quá  lớn 
- Nền nông nghiệp tập thể hóa và kỹ nghệ sản xuất theo kế hoạch, là một gánh nặng khổng lồ đối với nền kinh tế Liên Xô
- Giá dầu lửa rớt giá trong năm 1985 xuống còn một phần ba mức giá trước đó
- Dân chủ  và tự do ngôn luận bị hạn Chế ,Một xã Hội không minh bạch 

  Khi mở ra  dẫn đên xụp đổ 

Nguyễn Trãi Con Người Tai ba và bị oan nghiệt Chua sót


- Cuộc đời Nguyễn Trãi là cuộc đời chiến đấu không ngừng nghỉ- chiến đấu chống bạo lực xâm lược và chống gian tà
- Tư tưởng nhân nghĩa là đỉnh cao chói sáng trong thơ ông. Quan điểm xem văn chương là vũ khí chiến đấu thể hiện rõ trí tuệ sáng suốt của một thiên tài và bản lĩnh của một chiến sĩ dũng cảm.
- Cuộc đời Nguyễn Trãi cho chúng ta bài học quý báu về tinh thần nhân đạo, nhiệt tình chiến đấu, quan điểm mạnh dạn đổi mới, sáng tạo.





- Về dòng họ nội của Nguyễn Trãi, đến nay, chưa biết rõ lắm. Gia phả họ Nguyễn ở làng Nhị Khê chỉ ghi chép từ đời Nguyễn Phi Khanh trở xuống. Có nhiều nguyên nhân ẩn giấu gốc tích của họ Nguyễn ở làng Nhị Khê nhưng nguyên nhân trực tiếp vẫn là vụ án Lệ Chi viên, vụ án chính trị thảm khốc giết chết toàn gia tộc Nguyễn Trãi.
Theo quyển Văn chương Nguyễn Trãi (Bùi Văn Nguyên), ông nội của Nguyễn Trãi là Nguyễn Minh Du có 3 người con: Nguyễn Sùng, Nguyễn Thư và Nguyễn Ứng Long. Nguyễn Sùng và Nguyễn Thư đều là võ quan dưới triều Trần Phế Ðế, sau được Hồ Quý Ly trọng dụng.
Riêng Nguyễn Ứng Long (1336- 1408) lại gặp nhiều trắc trở trên đường công danh, sự nghiệp. Ông rất thông minh, ham học, nổi tiếng hay chữ, thi đỗ nhị giáp tiến sĩ đời Trần Duệ Tông (Năm Long Khánh thứ 3, 1374) nhưng không được nhà Trần tuyển dụng phải trở về quê làm nghề dạy học.
Sau khi Hồ Quý Ly lên ngôi, Nguyễn Ứng Long mạnh dạn đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh ra phục vụ triều đình nhà Hồ, giữ chức Hàn lâm học sĩ kiêm Tư nghiệp quốc tử giám.
Giặc Minh sang, nhà Hồ thất bại. Cả triều thần, trong đó có Nguyễn Phi Khanh đều bị bắt về Trung Quốc. Cuối đời, ông chết ở Yên Kinh (TQ )
- Ông ngoại của Nguyễn Trãi là Trần Nguyên Ðán. Ông là người thuộc dòng hoàng tộc (Cháu 4 đời của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải), tính tình điềm đạm, khẳng khái, có thành tích xuất sắc chống giặc Chiêm Thành dưới thời Trần Nghệ Tông nên được vua nhà Trần giao cho chức vụ Tư đồ, quyền ngang Tể tướng. Tuy nhiên, khi ông lên nắm quyền, cơ nghiệp nhà Trần đã suy vi. Chán nản thời thế, ông xin về ở ẩn tại Côn Sơn năm 1385 (Xương Phù thứ 9) và mất năm 1390.
- Ông ngoại và cha là những người trực tiếp ảnh hưởng đến tư tưởng yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi sau này.
Sống trong một giai đoạn lịch sử nhiều biến động phức tạp, cuộc đời Nguyễn Trãi gắn liền với từng bước đi của lịch sử. Có thhể chia cuộc đời ông thành 3 giai đoạn:

Nguyễn Trãi hiệu Ức Trai, sinh năm 1380, quê quán làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương sau dời về làng Ngọc Ổi (Nhị Khê) huyện Thường Tín tỉnh Hà Sơn Bình.
Ông là con thứ của Nguyễn Phi Khanh (Có sách nói là con trưởng). Tròn 6 tuổi, mẹ mất, ông phải về Côn Sơn ở với ông ngoại. Năm 1390, quan Tư đồ cũng mất, NT theo cha trở về sống ở làng Nhị Khê.
Tuổi thơ Nguyễn Trãi là một thời kỳ thanh bần nhưng ông vẫn quyết chí gắng công học tập, nổi tiếng là một người học rộng, có kiến thức rộng về nhiều lĩnh vực, có ý thức về nghĩa vụ của một kẻ sĩ yêu nước thương dân.

- Năm 1400 thi đỗ Thái học sinh triều Hồ
- Năm 1407, giặc Minh sang xâm lược, Hồ Quý Ly thất bại, Nguyễn Trãi nghe lời cha trở về tìm đường cứu nước nhưng bị giặc giam nơi thành Ðông Quan suốt mười năm dài.
- Năm 1416, ông tìm đến cuộc khời nghĩa Lam Sơn, dâng cho Lê Lợi tác phẩm Bình Ngô sách. Từ đó, ông gắn bó với phong trào khởi nghĩa Lam Sơn, tham gia xây dựng đường lối quân sự, chính trị phù hợp và đảm đương những nhiệm vụ quan trọng như soạn thảo thư từ địch vận, tham mưu, vạch ra chiến lược chiến thuật cho nghĩa quân.
- 1428, kháng chiến thành công, ông được Lê Lợi giao cho soạn bài cáo Bình Ngô nổi tiếng.

- Ðược phong chức vị cao trong triều đình và trở thành đầu tàu gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước
-Tuy nhiên, tài năng và đức độ của ông cũng bắt đầu bị bọn quyền thần ganh ghét. Ðặc biệt, sau vụ Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo bị bức tử, Nguyễn Trãi bị bắt giam một thời gian ngắn. Thời kỳ này, ông bắt đầu cay đắng nhận ra sự độc ác của miệng đời:
Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn
Lòng người quanh nữa nước non quanh
(Bảo kính cảnh giới 9)
- Sau đó, ông được tha nhưng không còn được tin dùng.
- 1433, Lê Thái Tổ mất. Ông chán nản xin về ở ẩn ở Côn Sơn
- Khi Lê Thái Tôn lớn lên, hiểu rõ Nguyễn Trãi, nhà vua đã cho vời ông trở lại làm quan, giữ chức Tả gián nghị đại phu.
- Rất mừng rỡ, ông viết bài Biểu tạ ơn hết sức xúc động và lại hăng hái ra giúp nước, chỉnh đốn kỷ cương, đào tạo nhân tài.
- Năm 1442, vụ án Lệ Chi viên xảy ra. Nguyễn Trãi bị can tội giết vua, cả dòng họ bị tru di tam tộc.
- Sau này, khi lên ngôi, Lê Thánh Tông đã tiến hành minh oan, phục hồi chức tước và sai Trần Khắc Kiệm tìm lại toàn bộ trước tác của Nguyễn Trãi.

- Cuộc đời Nguyễn Trãi là cuộc đời chiến đấu không ngừng nghỉ- chiến đấu chống bạo lực xâm lược và chống gian tà
- Tư tưởng nhân nghĩa là đỉnh cao chói sáng trong thơ ông. Quan điểm xem văn chương là vũ khí chiến đấu thể hiện rõ trí tuệ sáng suốt của một thiên tài và bản lĩnh của một chiến sĩ dũng cảm.
- Cuộc đời Nguyễn Trãi cho chúng ta bài học quý báu về tinh thần nhân đạo, nhiệt tình chiến đấu, quan điểm mạnh dạn đổi mới, sáng tạo.
Tác phẩm của Nguyễn Trãi dự đoán là rất nhiều nhưng đã bị thất lạc sau vụ án Lệ Chi viên. Hiện nay, chỉ còn lại một ít có thể kể tên sau:
- Tác phẩm Bình Ngô đại cáo ghi trong Lam Sơn thực lục và Ðại Việt sử ký toàn thư.
- Quân trung từ mệnh tập: Ðây là một tập văn chính luận thư từ địch vận (Có hơn 70 bức thư, trong đó đa số các bức thư gửi cho tướng tá nhà Minh, phần còn lại là những thư từ viết gửi cho quân ta.
- Văn loại gồm chiếu biểu làm thay cho Lê Lợi
- Băng Hồ di sự lục soạn năm 1428
- Văn bia Vĩnh Lăng soạn năm 1435
- Dư địa chí soạn năm 1435
- Ức Trai thi tập gồm 105 bài thơ chữ Hán
- Quốc âm thi tập, gồm 254 bài thơ Nôm (ước đoán, đây là quyển thơ Nôm duy nhất còn sót lại sau thảm án Lệ Chi viên.

Họ Nguyễn Việt Nam
















Làng Tôi

GIỚI THIỆU QUA LÀNG CỔ THÔN KIM BÍ XÃ TIÊN PHONG-HUYỆN BA VÌ-HÀ NỘI

Từ Hà Nội theo đường 32 lên Ba Vì ,Cách Hà Nội 52 Km rẽ trái khỏang 2 Km, rẽ phải qua Làng bằng Lũng là Làng Kim Bí.Một ngôi làng cổ xưa tan hoang bởi các Đình đền miếu mạo, chùa triền,quán,điếm và ngay cả cái cổng làng cổ xưa bị phá hết chỉ còn lại dấu tích hoang phế. Mãi tới năm 2011 một số cơ sở thờ tư mới được khôi phục nhưng song rất sơ sài.Người dân ở đầy chủ yếu là làm ruộng ,đồng ruông thì một nửa là trung du ,đồi gò đá ong, Trước đầy còn có các cây công nghiệp như là Trám ,sở, ruông nương trồng săn,nhưng những năm sáu mươi các cây này được chặt làm củi đốt lò gạch, lò ngói,lò thuốc lá…Ngày nay vẫn chưa khôi phục ,dưới các đồi gò là nhũng thung lũng lầy lội, mỗi năm chỉ cấy được một vụ lúa chiêm rét.Còn nửa kia là đồng ruộng tương đối bằng phẳng trồng hoa mầu và cấy lúa bốn mùa được.Dân ở đây rất hiếu học ,Thời cuối Lê có người đã đỗ bảng nhãn .Các di tích ở đây trước kia làng có ba ngôi đình, môt đình giữa làng thờ mục đồng chăn trâu là Thần Hòang Làng ,tương truyền cậu đi chăn trâu nằm ngủ bị mối đắp chết ngài trở lên linh thiêng nên Dân làng Tôn Lên làm Thân Hoàng .Còn môt đinh gọi là đình Tiên ở đầu làng,Theo câu truyện truyền lại ở đình này có một ông Tiên xuống dạy học ba ông và cả ba ông này đỗ đạt, đó là Thám hoa Giang Văn Minh ,sau đi sứ sang tầu với lòng tự tôn và tự hào dân tộc mà ông bị tầu mổ bụng xem gan có to không,ông Phùng Thế Trung Đỗ khoa bảng Năm Quí Hơi nghe nói đươc cai quản ở quốc tử giám và được ghi danh một bia đá Thứ 3 hàng Đầu và ông Lã Khanh trở Thành nhà địa lý có tiếng trong vùng. Ngươi Thầy Kia dây học sinh đố đạt song các trò hỏi thây tên là gi ngươi thầy chỉ lên trơi xanh mây trăng nói hê các ngươi nhìn lên trơi thấy mây trắng chinh là ta , Ta là Bạch Vân Tiên rôi biến mât về sâu Dân lang Lập Đinh Thờ Ngài .Còn Một ngôi đình nữa gọi là đình Cụ , đình này nằm ở xa làng, là nơi tránh nắng ,các cụ ngày xưa đi cày nắng quá lên đình ngồi nghỉ.Ngoài các ngôi đình làng có một Ngôi chùa được tọa lạc dưới bóng một cây Đa cồ thụ ,ước tính tới nghìn năm tuổi, chùa này những năm 63 là trường bổ túc công Nông sau đổi thành Thanh Niên XHCN Ba Vì và ngày nay trường đó được chuyển vào ba trai gọi là trường phổ thông Ba Vi .Trong chùa tượng mới được đắp lại bài tri sơ sài chưa được phục hồi như xưa. Trong Làng còn có bốn điếm trấn ở bốn phương, chốn này là nơi xưa kia người làng thay nhau canh gác bảo vệ làng ,các điếm này đã bị phá hết đến nay chưa được khôi phục lại,ngoài ra còn một điếm ngoài nằm ở ngoai Làng ,cách Làng một cái Cầu nhỏ nay là cái cống.Ở làng còn có bốn nhà thờ của bốn Họ ,đò là nhà thờ Họ Nguyễn Khắc,Nhà thờ Họ Phùng Thế,nhà Thờ Họ Trần Viết,Nhà Thờ Họ Trương Văn, Các nhà Thờ Họ này những năm chiến tranh phá hại Miền Bắc của đế quốc Mỹ, các Nhà Thờ Này biến thành trường học ,Tới nay đã xuống cấp các Họ nghèo đã được khôi phục nhưng không băng xưa. Làng này đã có chiến công đánh giạc Mường ra cướp bóc xương giặc vẫn còn trong lòng sông Tich Giang .Ngày 16 tháng 1 năm 1951 Đai Tướng văn tiến Dũng đã chỉ huy công đồn,lô cốt đầu tiên trong 10 lô cốt ở khu vực Ba Vì bị đánh sâp ,đơn vị nay là tiền thân của sư đoàn 320 ngày nay và những năm chống pháp bồ đội ta cướp được một khẩu pháo 130 ly từ Quốc Lộ 11a nay là quốc lộ 32 , kéo vào Ba Vì đi qua làng , các cụ kể rằng khi đi qua cầu bê tông vướng hai tai cầu ,thế là đập bỏ tai cầu.Những năm trống Mỹ làng này là nơi chú ngụ của các quân binh chủng (hóa học, đặc công,pháo binh) huấn luyện và chuyển quân vào Nam .Nhìn chung làng nay ngày xưa là một ngôi làng cổ,đep và giầu có ,còn để lai nhiều dấu ấn văn hóa xưa ,là một làng có nhiều tập tục đẹp được nhà Vua ban cho là Làng Mỹ Tục bức đại tự của Làng (Kim Bi , Xã, Nghĩa Dân)một làng có nhiều tục đẹp.Một làng những người dân hiên lành ,cần cù lao động,Ham học hỏi đang khởi sắc và hòa nhập vào dòng chảy của thời đại. Mơi Duc Khách ban bè gần xa bôn phương về vơi mảnh đất Giâu chuyền Thống ,đẹp và thấm đậm Tinh Người ,Một địa chỉ dễ mến . ngày 25 tháng 1 âm Hàng Năm là ngày Hội làng được mở mội từ ngày 23 đến ngày 25 Tháng Riêng.Cảm ơn bạn bề và tât cả khách thập phương có lòng hảo tâm .Nguyễn Khắc Long Mail:nguyenkhaclong1955@gmail.com.

Sơ Lược Cuộc đời tôi

CUỘC ĐỜI TÔI  

Những Năm Tháng Ở Quê
  Tôi Sinh ra lớn lên  Ở Một Vùng Quê bán sơn địa Ngheo   với những trường đồi  trung du  và những cánh đông chiêm chũng.  Quê Tôi Xưa Cổ Kinh  có đinh có chùa có cổng làng To có các điếm canh  . Thề rồi Chiên tranh, kháng Chiến tiêu thổ  phá đi hết sợ pháp chiếm đống . Tôi học lớp vợ lòng đầu tiên ở nhà thờ họ  lúc đó là cô Phùng thi Hợi dậy nay cô cũng già  Chắc cô Sinh Năm 1947,lây chồng ở Tản Hông .Lớp 1  Lớp 2 lớp 3 ,4 cũng học ở nhà thờ họ Nguyễn Khắc Và nhà thờ Họ Trần. Tới Lớp 5 lớp 6 mới sang tung tâm xã , đôi Cây Dai, Đôi Ăng Thu  học . Đến năm Lớp 7 mới về trường  ở đồng bai học . nền Trường nay là Ủy Ban Xã Tiên Phong. Tôi Học Hết Lớp 7 Thi vào cấp 3 không được phải ở nhà đi cầy và phụ giúp mẹ một năm . Bạn cày hồi ấy bây giờ chẳng còn ai vì  tôi đi cày với các cụ cũng đã lớn tuổi nên bây giờ các cụ đã đi về tiên tổ . Đến đầu Năm 1971 Ông Anh cả là Nguyễn Khăc Cường xin tôi vào học Trường Thanh Niên Xã Hội Chủ nghĩa Hà sơn Bình vừa học vưa làm   nay là trường Phổ Thông Ba Vì . Học Trường nay thời đấy mỗi tháng Được 13 kg gao một  thàng , học buổi sáng Chiều lao động đóng gạch ,trồng lua , trồng dứa … cũng vất vả đấy . Trường Nay Học Chùa Ngạch Kim Bí một Năm . thi chuyển lên gò ông và nay chuyển vào gò Chùa Xã Ba Trai  Tôi hoc hết lớp 9 thi có giây bao nhập ngũ thế là phải dừng việc học hành lên đường nhập nghũ . 
 Đi Qua Mọi Miền Của Đất Nước ; 
 Năm 1973  năm ấy Tôi 19 Tuổi nhân  được giấy gọi Nhập ngũ ngày 3 Tháng 9  tập chung ở xã chu Minh   đến tối ngày hôm đây lên xe gát 66 đi vào sân bay sao vàng Thọ Xuân Thanh Hóa . Tôi nhớ chuyến đi  xa đâu tiên vào giữa đêm răm ,trăng tỏ lắm ngươc nhìn Bầu trời trong đem bao la lung linh những vị sao . Sáng Ngày 4 nhận quân trang với nhưng bộ quân phục gapadi thơm phức  ,chúng tôi rủ nhau ra Hồ của Nông Trường cá phê sao vàng tắm và thay quần áo mới . Tôi Cũng Không nhờ Ở Sao Vàng  bao lâu , chắc vào khoảng 10 đến 20 ngày thi lên xe gát 66 hành quân ra Hà Nội và tập kết tại  Trận Địa pháo Nghĩa Dũng Chương Dương Hà Nội. Ở Đây Huấn luyện điêu lệnh đội ngũ khoảng 3 Tháng thì được điều Lên sân Bay Kép về căn cứ Yên thế và được phân về tiểu ban huấn luyện Của Trung Đoàn Không Quân 923  , được phân công nghiệp vụ ghi giờ bay ,Công Việc mới lạ lẫm theo các anh lớn tuổi học nghề, hàng Ngày Theo xe Hải Hâu từ căn cứ ra đài chỉ huy sân bay  kép làm nhiệm vụ ghi giờ máy bay cất ,hạ canh . Đâu Năm 1974 từ Sân Bay Kép cơ đông bằng máy bay về sân bay Kiên An  ở đây 1 năm cuối năm 1974 được lệnh cơ động vào sân bay sao vàng  ở đây Sống với nhưng ngay thỏa mái của người lính đến  tháng 30 tháng 4 được lênh  cơ động đến quân cảng Hải Phòng  lên tâu của đoàn vận tải quân sự hải quân đi theo biển vào  Đà Nẵng, Cam Ranh, Tân Cảng rôi đi Cần Thơ  đến 15 tháng năm thì vào tới cần thơ và ngày 21 tháng 5 thì thành lập trung đoàn  không quân 937 . Cuối năm 1976 được đi phép Về quê . Đi Theo các trạm chuyên quân ,Tổng Kho Long Thanh, Phan Rang, Qui Nhơn, Đồng Hới, Vinh, Tía và ga Hà Nội xuống tàu về Quê Ba Vì. Tôi Còn Nhớ cuôi năm đây sát tết thì trả phép  về tới đơn vi thi đã 29 tết âm ăn tết ở Cần Thơ. Tiếp Tục Sống ở sân bay Cân Thơ  đến Ngày 7 tháng 11 thi nhận được quyết đinh ra quân  hoàn thành nghĩa Vụ Quân Sự . Quãng  Thời gian từ  Ngày 3 Tháng 9 năm 1973 Tới 7 tháng 11năm 1977 với thơi gian trông quân đội 4 năm 2 tháng 4 ngày Không Nhiều nhưng mà  được đi kháp mọi miền của đất nước và  cảm nhận cuộc sống có của kỷ luật của quân đôi nghiêm. Tới giờ nghi lai cảm nhận thây tự hào và hạnh phúc  được trải nghịệm trong quân đội được đi đây đi đó,được tân măt nhín thây đất nược ta giầu và đẹp cuộc đời thây thật tuyệt vơi, được mục Thị  vẻ đẹp mọi miên Đất Nước  ,  con người Việt Nam .  Tuyệt Vời.
 Thời Sinh Viên
Ngày 7 Tháng 11 Tôi ra Quân xuất ngũ Về Quê tham gia lao động ở hợp tác xã đến 3 tháng 9 lên trường Thanh Niên Xã Hội Chủ Nghia Ba Vi nhập học, học tiếp lớp 10 .hồi đó tôi vào lớp 10 với tuổi đời đã 23 lớn nhất lớp so vơi các ban học cùng lớp .Tôi hơn 5 tuổi với bạn họ và được phân công làm lớp trưởng .Một năm vừa học vùa làm và đến tháng 5 thì thi tốt nghiệp tháng 7 thì đại học may tội được ưu tiên cộng điểm lên được vào học dự bị đại học một năm Của trường Đại học tai chinh kế toán Hà Nội . Hộc Dự Bị Một Năm thi thi chuyển sang học đại học dài han, được phân vào học Lớp Thu Quốc Doanh khoa tai Chính ,Đai Học Tài Chinh Hà Nội .Học hơn 4 năm 6 tháng trong trường với biết bao Kỷ niệm của thời bao cấp như dói vì thiếu gao phải ăn bobo,khoai lang thay gạo thay bánh mì .Không có điên phải Dung Đèn Hoa Kỳ. Tối còn nhớ cứ tối đến mỗi học sinh Cầm cái đền Hoa kỳ lên giảng đường học. nhà thì nhà dã chiến băng ván ép mai tôn Thụy Điển trời nóng thi nóng dữ dôi trời rét thi rét căt tay. Ở Thì Ở những ngôi nhà nái lơp phên Lứa ,ở giường tâng đứng lên tâng hai rut Tỉa phên nứa để nâu cơm. Học ,ăn Ở Vất vả là vây nhưng vẫn lạc quan ,Tôi còn nhờ Nhưng Đêm liên hoan văn nghệ trường trời ret vẫn khoác chăn đi xem Văn nghệ ,hồi đó tôi thích nghe bài hát hanh khúc ngày và đêm do Anh Cam Thành Lớp 17-04a thể hiện , thích nghe tiếng đần gita điện ngân vang của anh Hoàng người Hà Nội ở 24 Trân Hưng Đạo Chơi .Sau nay ra công tác tội có dịp gặp lai anh với chức danh Anh là Ông Giam đốc Xí Nghiệp vận Tai Nam Của Tổng Vận Tải Hà Nội. Còn Đi Chơi Ư Chúng Tôi thường Tụ Tập Ở Quán Nược Chú Bi, Quan Nươc Sang Hơn là nhà ông Cảnh ở Cổng Trường,Hoặc Đi Chợ Mua rau và các Thứ cải Thiện. Hồi ây chúng tôi hay đi ra chợ phúc yên ở thị xã Phúc Yên. .Đi Chơi xa Hơn thi đi lang thang ra thị xã phúc Yên,Phúc Lớn, tiền châu, Thánh Tước,Xuân Hòa hay lên sân vân động Vính Yên xem đâ bóng. Trường Đại Học Tài Chinh Những Thập Kỷ 70,80 ở bên cạnh sông Kà Lồ Thuộc Thị Xã Phúc Yên ,dòng sông này nước chảy lơ đờ buổi chiều học song chúng tôi thường ra đây tắm ,bơi dọc Sông tới 1 hai cây số. Đời Sinh Viên Nhớ Nhất Nhưng Ngày Nhảy Tầu Họăc Đi ôtô mỗi khi về quê hay lên trường. Thơi Sinh Viên Cũng Nhanh Qua Thoảng Cai hết năm năm học với bao vât vả với bao kỷ niệm vui buồn được lưu vào ký Ức để đến một lúc nào đây thăng hoa.Đến 9 tháng 3 năm 1984 tạm việt Đời Sinh viên về nhận Công Tác Ở chi cục thu quốc doanh và quản lý tai chính các xi nghiệp Trung ương Hà Nội bắt đâu một cuộc sống mới.

Vào Ngành Thuế.

 Cuối  Năm 1983  Tôi  ra trường được phân công về Chi Cục thu quốc doanh và quản lý tài chinh các Xi Nghiệp trung ương. Ngày ây Ông Nguyễn Duy Trước Chi Cục Trưởng cùng ông Trân Đình Lân Lên Tận Trường Đạị Học Tài Chinh ở Thị Xã Phúc Yên lấy chúng tôi. Ngày 3 tháng 9 Tôi đến Số 13 Phố Sơn Tây, Hà Nôi nhập cơ quán  và đương Nhiên Từ Đó trở thành cán bội thuế.. Tôi Được Phân Công Về Phòng Công Nghiệp B   Thu quốc Doanh Về Linh vực các ngành công nghiệp Thực Phẩm ,công nghiệp nhẹ ,Nông Nghiệp Thủy Lơi Thủy Sản.  Ông Huỳnh  Mỹ Là Trưởng Phòng.Tôi Được Giao Theo dỗi tình hình nộp thuế và chấp hành các chinh sách tài chính của các Nông Trường Trạm Trai  .Các doanh nghiệp nay chủ yếu ở ngoai thành như Ba Vì, Sóc Sơn, văn điển, Đông Anh , Gia Lâm, Các Doanh Nghiệp nay sô thu it chủ yêu lầm nhiệm vụ chính tri .  Ở Phòng Nay Đến năm 1986 Thì thành  Lập phòng Nông Lâm Thủy Lơi Thủy Sản tách từ phòng công nghiệp B ra ,Có Nhiệm Vu  Thu Thuế Và Theo Dõi Thực Hiện Chính Sách tài chính Ngành nông nghiệp , ngành thủy san, ngành thủy lơi. Phòng Này Tồn Tai cho đến Năm 2004 qua ba đời Trưởng Phòng  là Ông Nguyễn Văn Chính, Bà Đoàn Thị Kìa, Bà Nguyễn  Thi Hồng Hà. Những Năm Tháng Ở phòng nay vui làm việc vấ vả nhưng những ngay nghỉ phòng thường đi du lịch tâm Linh như đi chùa Hương lễ phật , phủ Dây Lễ Bà Liễu Hạnh, Đi Yên Tử Lễ Phât, Đi chùa Mía, Đền Thượng Ba Vì, Chùa Tây Phường , Tam Cốc Bích động. Mùa Hè Công đoàn Tổ Chức Đi nghi mát tắm Biển cả gia đình thật vui .  Năm 2004 Phòng Nông Lâm  Nhập Với phòng Công Nghiệp  hình Thành phòng Quốc Doanh Số 2  Phòng Nay  Không Tồn Tai không Được Lâu và đến năm 2008  Thì Tan Ra Làm 6 mảnh  giải tan cán bôi được chia thành 6 phòng khắc nhau .Tôi được phân công về phòng kiểm tra thuế Số 2 và Công Tác Cho Đến Bây Giờ .Phong Sáo chôn  cán bộ của nhiêu phòng tập hợp về  dươi chi cục lên ,số cán bộ 34 cán bộ  trai gai cân băng  lớp trẻ nhiêu lên  công việc lắm lên sô thu lơn , mỗi năm thu tơi 60-70 nghì tỷ.các doanh nghiệp là các tập đoàn và tổng công ty To khung .  Có lễ Tôi cũng chỉ ở phong nay 10 tháng nưa là về nghỉ hưu tạm biệt ngành thuế. tạm dưng với 30 năm công tác thuế  đây những vất vả  ,kho khăn   nhưng cung cảm nhận được nhiêu điêu thu vui của ngành  , cảm thây tự hào và hạnh phúc.

Nhớ lại

Nhớ Lại Kỷ Niệm một Chuyến đi xa.

Từ Tháng 3 năm 1975 bồ đội ta mở nhiêu trân đánh lớn quân ta thừa thắng Sốc tới giải phóng Buôn Mê Thuột,Quảng Trị, Huế ,Đà Nẵng , khánh hòa, Phan Rang ,Phan Thiết , Xuân Lộc rôi Sài Gòn . Ngày 1 Tháng Năm 1975 Chúng Tôi Được lệnh đi công Tác Từ Sân bay Sao Vàng Thọ Xuân Thanh Hóa, được Phát Quân trang quân dụng ra Xe gát 66 trở ra Huyện Đông Sơn Thanh Hóa ngủ ở đây một đêm rôi lên tâu hỏa xa chay ra Hà Nội, xuống Hải Phòng đến Quân Cảng Hải Phòng lên Tầu Đoàn Cá Kinh vân tải quân sự của Quân Chủng Hải Quân Đi Vào Nam. Tầu Xuất Phát vào khoảng 5h chiều từ Hải phòng hướng ra Biển Đông ra tới Biển Đông Trời Đã Tôi có lẽ vào khoảng 7 ,8 giờ gì đó thi thấy các chiến Sỹ Hải quan Nói Đã Vượt qua phao số không . Ở Ngoài Biển về đêm mù mịt nhin xa là nhưng ánh đèn của ngư Dân đánh cá .Đêm hôm đây không ngủ Được trên Tầu có tới 500 lính Người ngôi người đứng ,người trên khoang, người dưới hầm Tâu,Người nôn vì say sóng . Đến Sáng Ngày mùng 2 Tầu vẫn lướt sóng lúc nay đã nhìn thấy Hoàng hôn trên biển Thật Đẹp , nhìn xuống hai bên sườn Tầu Từng đàn cá Heo dượt đuổi theo Tầu thật đẹp . Chiều hôm đây Tầu cuả chúng tôi cặp Quân Cảng Đà Nẵng ngủ ở đây Một Đêm để ngày hôm sau đi Tiếp.Đêm hôm đấy cũng không ngủ vi tàn Quân Ngụy dạt nên núi bán đảo Sơn Trà Đêm Xuống quấy nhiễu ,rồi cũng qua .Ngày hôm sau 3 đi tiếp cũng một ngày nữa đến Quân Cảng Cam Ranh Tầu vào Cảng Cam Ranh và Nghỉ Một đêm nữa Ở đây Tới Ngày 4 Thì Tầu lại ra khơi Vượt Sóng tới Vũng Tâu Nhìn ở Ngoài thấy Thành Phố Vũng Tầu và Nhìn Thấy Tượng Đức Mẹ Mania Trên Đỉnh Núi Nhìn ra Biển, Tầu Không vào đây mà hướng vào Sông Sài Gòn , kia là Khu Xăng Nhà Bè mầu trắng toát bạt ngàn những bồn chứa Xăng.Tầu vào Sông Sài Gòn hai bờ Sông là Dừa Nước mầu xanh đi gần tới Chiều thì Thành Phố Sai Gòn Xuất Hiên những Tòa Nhà Cao Tầng Phía bên Trái là nhìn thấy Tượng Trân Hưng Đạo Bên bờ Sông Bạch Đăng Uy Nghi ,Tầu Từ Từ Vào Quân Cảnh Sai Gòn .Đây là Quân Cảng Cuối Cùng lên Tầu . Sáng Hôm sau lên các chiếc xe GMC và đi Một mạch xuống sân Bay Cần Thơ tiêp quản sân Bay và Sư Đoàn 4 Không của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa do Chẩn Tướng Nguyễn Hưu Tần là Sư trưởng ,Tư lênh Quân Chủng Không Quân Việt Nam Công Hòa ban giao căn Cứ . Các Thủ Trưởng Nhận Bàn Giao nhận chỗ ở thế là kết thúc một chuyên đi xa và đến Ngày 15 tháng 5 Năm 1975 Bộ Đội ta Duyệt Binh Mừng Chiến Thắng Tại Sai Gòn .Những Ngày ấy vẫn côn mãi mãi trong ký ức Của những người linh chúng tội.